Thứ Ba, 29 tháng 4, 2008

Bí ẩn kim tự tháp

Trong 7 kỳ quan của thế giới cổ đại, thì Kim Tự Tháp Ai Cập được xếp hàng đầụ Trong quần thể Kim Tự Tháp Ai Cập thì đứng đầu lại là lăng mộ của quốc vương Đệ Tứ - Kim Tự Tháp Khê Ốp (Khéóp) là tráng lệ nhất.
Kim Tự Tháp Khê Ốp được xây vào năm 2600 trước Công Nguyên, gồm 2,300,000 phiến đá cực lớn, nặng trung bình 2.5 tấn xếp chồn lên nhau. Tổng trọng lượng của Kim Tự Tháp là 60,000,000 tấn, tương đương với độ cao của tòa nhà cao chọc trời 40 tầng. Với con mắt người hiện đại thì bản thân nó đã trở thành một câu hỏi cực lớn và một dấu than lớn làm day dứt biết bao thế hê.. Kim Thự Tháp Khê Ốp chứa hàng loạt các câu hỏi khiến ta không thể không bàn tới. *Thứ Nhất: Kim Tự Tháp được kết cấu và thiết kế với các số liệu vô cùng chính xác. Tháp cao 146.5 x 1000 triệu thì tương đương với khoảng cách từ Trái Đất tới Mặt Trời, lấy 2 lần chiều cao tháp chia cho diện tích tháp 52,900 mét vuông thì sẽ là số p (3.14159). Đường kinh tuyến đi qua tháp vừa đúng là đường phân chia hai nửa bằng nhau giữa lục địa và hải dương của quả đất. Còn bình phương chiều cao tháp thì bằng diện tích hình tam giác của một mặt tháp. Nếu kéo dài đường góc đối hình vuông góc đáy tháp thì vừa đúng bao gồm vùng Tam Giác Châu cửa sông Nilẹ Còn kéo dài đường chia đôi hướng dọc từ điểm đỉnh tam giác sẽ đi qua đường chia đôi của chau thổ này . *Thứ hai: Đo lường kiến trúc vô cùng chính xác. Tất cả đầu đá mặt tháp đều được xếp chồng lên nhau và dựa vào trọng lượng của bản thân để liên kết mà không dùng bất cứ một chất kết dính nàọ Các khe hở ở bề mặt thân tháp và đầu đá xếp khít với nhau tới mức một lưỡi dao cực sắc, cực mỏng cũng không thể luồn vào được. Chênh lệch độ cao ở góc Ddông Nam và góc Tây Bắc chỉ tới 1.27 cm. Sai lệch chiều dài các cạnh đáy cũng không quá 20 cm, dung sai không quá 9/1000. *Thứ ba: Có nhiều lực thần bí siêu tự nhiên. Bên trong Kim Tự Tháp như một chiếc tủ lạnh cực lớn. Nếu đem sữa tươi, nước quả, hoa quả, thịt tươi đặt vào trong đó vài ngày vẫn giữ được như mớị Nếu gieo mần các loại sản phẩm ở trong Kim Tự Tháp thì thời gian sinh trưởng ngắn hơn vài lần so với gieo trồng ở ngoài tháp mà sản lương lại cao, chắc hạt. Các vật bằng kim loại đang có các vết đốm gỉ nếu đặt trong Kim Tự Tháp một thời gian sẽ trở lên sáng bóng lấp lánh. Ngoài ra trong tháp còn có hiệu ứng gây tê và chống thối rữạ Người nao suy nhược thần kinh, nếu nằm ngủ trong tháp sẽ nhanh chóng đi vào giấc mô.ng. Người khó chịu toàn thân, bao gồm đau đầu, đau răng, phong thấp, viêm khớp ... khi vào tháp sẽ cảm thấy dễ chịu, tinh thần sảng khoái, đau đớn tiêu tán. Những cây gỗ còn ở trong tháp đều được thoát (bay) nước tự nhiên và diệt khuẩn, có thể tồn trữ đã vài ngàn năm mà vẫn không bị mục. Các nhà khoa học phát hiện trong Kim Tự Tháp thực tế có một loại khoảng không dao động viba tương đối tốt. Trong khoang này, hiệu ứng viba (kể cả hiệu ứng nhiệt) được phát huy một cách đầy đủ. Ddiều này làm cho gỗ trong tháp được bảo quản lâu dàị Các nhà khoa học còn phát hiện trong tháp còn tồn tại sóng vũ trụ rất lớn, có ảnh hưởng với mức độ khác nhau ở đầu và cơ thể ngườị Vậy sóng vũ trụ trong tháp từ đâu tớỉ Các nhà nghiên cứu cho rằng: trong quần thể Kim Tự Tháp Ai Cập (gần trên 70 tháp nằm rải rác vùng Chi-Tát, hai bên vờ hạ lưu sông Nil và một khu rộng lớn ở phía Nam) thì tháp nào cũng đều có hướng chính Nam đi Bắc và không hề có sai lê.ch. Theo hướng này thì hoàn toàn đúng với đường sức từ của trái đất, như vậy sẽ làm cho đường sức từ đi qua tháp được nhiều nhất. Bên trong tháp còn có đá hoa cương thu nhận sóng vũ trụ và có khả năng tích điện. Bên ngoài tháp lại là đá vôi không thể thu nhận, tồn trữ các loại điện năng và sóng vũ tru.. Như vậy đá hoa cương trong tháp sau khi đã tiếp nhận, tồn trữ từ năng quả đất và sóng vũ trụ thì dùng đá vôi ở bên ngoài tháp đề phòng khuếch tán. Chính vì vậy, trải qua trên 4000 năm, bên trong Kim Tự Tháp đã thu nhận và tồn trữ một lượng rất lớn sóng vũ trụ và năng lượng địa cầụ Từ những gợi ý về kết cấu của Kim Tự Tháp Ai Cập, hiện nay đã có nhiều nước xây dựng các vật kiến trúc theo kiểu Kim Tự Tháp với nhiều hình dáng khác nhau để tiến hành thử nghiệm. Có nói thì xây kho theo đúng kiểu Kim Tự Tháp dùng để bảo quản lâu dài lương tực hoặc là các kho chứa vật dự trữ chiến tranh. Vậy thi ai là người xây Kim Tự Tháp lớn nhất (Kim tự Tháp Khê Ốp) và hoàn thành công trình vĩ đại này như thế nàỏ Ngày nay, mọi người không ai nghi ngờ gì về vị vua thứ 4 của Ai Cập cỗ là người đã đề xướng và xây nên Kim Tự Tháp lớn nhất. Vì hầu như toàn bộ các băn bia và sách cổ của ai Cập lưu giữ đều nói khá rõ việc nàỵ Nhưng có nhà nghiên cứu lại cho rằng: NẾu theo sức lao động của người đương thời thì Kim Tự Tháp lớn cơ hồ không thể xây dựng được xong trong thời gian cuộc đời Khê Ốp. Giáp định ở đây có khả năng Khê ốp ngụy tạo ra các văn bia và thư tịch về người xây dựng Kim Tự Tháp lớn nhằm đề cao cái uy cái đức và công lao của ông tạ Thủ pháp này vào thời cổ không phải là hiếm thấỵ Trong thư viện Bô Ddéc Li An đại học oxford phía bắt nước Anh có lưu giữ một bản thảo cho thấy: Kim Tự Tháp lớn là do quốc vương Sô Lít cách thời Khê ốp khá xa đề xướng xây dư.ng. Bản thảo này là di cảp của Ma Si Út - nhà văn người Kô phút Ai Cập. Ttác giả đã qua một thời gian dài nghiên cứu điều tra cho biết: Trước đại hồng thủy, nhà vua hiền Su - bít trị vì Ai Cập đã từng ra lệnh cho tín đồ của mình là ghi chép tất cả những học vấn của mình lại và lưu cất trong Kim Tự Tháp. Tác giả còn vạch rõ rằng theo truyền thuyết của người Kô phút thì Kim Tự Tháp thực ra là được xây dựng vào trước thời đại Hồng Thủỵ Như vậy, nó có trước vài trăm năm thời Khê ốp. Trong cuốc lịch sử (quyển 2) của nhà sử học Hy Lạp cổ Hêrodotos xác thực là có sự suy diễn nàỵ Bây giờ chúng ta hãy tìm hiê/u số lượng người tham gia xây dựng tháp và thời gian xây dựng nó thực tế phải mất bao lâủ Theo Herodotos (ông đã đến Ai Cập thế kỷ 5 trước Công Nguyên và đã khảo sát thực địa Kim Tự Tháp) thì việc xây dựng đại Kim Tự Tháp này phải mất tổng cộng 30 năm. Thợ xây được chia thành từng kíp 100,000 ngườị Mỗi kíp thợ phục dịch 3 tháng, luôn phiên thay đổị Nhưng theo một nhà nghiên cứu khác lại cho rằng: theo điều kiện đương thời, chưa có cần cẩu và các máy móc vận chuyển hiện đại, chỉ có thể dựa vào con lăn, đòn bẩy và các dụng cụ thủ công khác. Vậy thì làm thế nào đê/ đưa khối đá lớn nặng 2.5 tấn tới độ cao trên 100 mét? Quá trình thao tác sẽ phải như sau: Trươc' hết phải xây xong lớp mặt nền, sau đó đắp dốc bằng đất có độ cao bằng tầng thứ nhâ"t rồi trượt theo dốc đâ"t mà kéo đưa đá lên tầng 2 ... Khi xây xong tháp mới chuyê/n đất đi để lộ Kim Tự Tháp rạ Tính toán theo cách làm này thì mỗi ngày thực tế chỉ có thể xâyđược 10 khối đá, mà toàn bộ Kim tự tháp dùng tới 2,300,000 khối đá lớn thì phải dùng tới 230,000 ngày tức là 630 năm. Do đó, tháp xây xong mà Su lít vẫn chưa nhìn thấp còn Khê ốp thì ngôn ăn sẵn mà được hưởng. Về việc này, lại có học giả cho rằng: Thời bấy giờ gỗ ở Ai Cập rất hiếm, mà phần nhiều là cây co.. NGười Ai Cập lại không biết chặt đẽo làm thành côn lăn. Hơn nữa, quả cọ lại là thực phẩm không thể thiếu được của ho.. Thân cọ khô và lá cọ là vật liệu duy nhất dùng để che nắng, chống nóng của dân vùng nàỵ Nói về công cụ vận chuyển để xây tháp là con lăn thì người Ai Cập cổ chỉ có thể nhập khẩu gỗ về, mà khả năng của nước Ai Cập thời đó liệu có làm nổi không? Ngoài ra muốn nhập khẩu được gỗ thì phải có một đội thuyền khả quan, phải chặt gỗ từ núi Ali, chuyển ngược dòng sông Nil, tới Cai-rô, Chi-tạ Vào thời xây tháp, người Ai Cập lại chưa có ngựa và xe ngựạ Mãi tới vương triều thứ 17 - Khoảng năm 1600 trước CN thì ngựa và xe ngựa mới thấy có ở Ai Cập. Vậy thì với số lượng gỗ lớn như vậy, sẽ không có cách nào đưa được tới Cai-rô, Chi-ta ... Nhà học giả PunĐdan-Ni ken đề xuất: Kim tự tháp Ai Cập, đặc biệt là Kim Tự Tháp Khê ốp là do người ngoài hành tinh thực hiện. O6ng cho rằng Ai Cập cổ xưa chưa có kỷ thật đo lường, vùng này lại thiếu đá và gỗ, không thể làm được một công trình kiến trúc cao to như vậỵ Ông còn nhất mạnh: Muốn xây ngọn Kim Tự Tháp như vậy thì ngoài số thợ có mặt tại công trường xây tháp, còn phải có một đội ngũ hậu cần phục vụ rất lớn. Nếu kể cả thành viên trong gia đình đi theo thì cần phải có tới 500,000,000 người mới ứng phó được. Nhưng theo suy đoán số nhân khẩu vào năm 2600 trước CN thì thế giới lúc bấy giờ chưa vượt quá 20,000,000 người (về số liệu này tuyệt đại đa số các chuyên gia đều công nhận như vậy). Vì thế, Đan-Ni-Ken đoán rằng: Nhất định là có người ngoài hành tinh mang theo dụng cụ đo khoảng cách bằng tia laser, máy tính điện tử và cần cẩu ... hạ xuống vùng hạ lưu sông Nil để xây dựng Kim Tự Tháp. Theo các báo cáo gần đây, nhóm khảo cổ học của tiến sĩ Pon-Gia-Lu phát hiện một đố.ng vật đóng băng trong một buồng kín ở Kim Tự Tháp. Họ đã dùng các máy móc thám trắc hiện đại để đo kiểm phát hiện thấy con vậy này có nhịp tim và báo hiệu có huyết áp. Tiến sĩ Ga-ba cho rằng: Con vật này vẫn là sinh vật có sức sống, tin rằng nó đã tồn tại 5000 năm trước. Ngoài ra được biết trong phòng kín (mật thất) này còn có một cuốn sách ghi chép bằng chữ tượng hình. Cuốn sách có ghi cách đây 500 năm về trước có một cỗ xe "thiên mã" đi vào gần thành Cai-rô để lại một người "Sinh hoàn giả". Ddây là một nhà thiết kế, khả năng người này đã thiết kế ra Kim Tự Tháp. Kim tự Tháp này dùng làm tháp tín hiệu thông báo cho đồng loại ở bầu trời tới cứu viện. Nhà hóa học đương đại người Pháp là Da-viđu-uyt, lại có một cách giải thích khác. Ông cho rằng: Những khối đá lớn xây dựng Kim Tự Tháp là những khối đá nhân tạo đổ ép lại, không phải là đá thiên nhiên, ông đã lấy mẫu các viên đá nhỏ thu được ở Kim Tự Tháp đem về hoá nghiệm. Kết quả cho thấy những viên đá này được làm từ những mỏ đá vỏ sò. Vì thế, thời bấy giờ rất có khả năng sử dụng phương pháp "Hóa chỉnh vi linh" tức là trước hết cho bê tông đã trộn vào các khoang sọt rồi mới đưa lên Kim Tự Tháp đang xây, từ đấy mới đúc từng khối một, từng tần từng tầng cao dần. Với giả thuyết này cũng có thể là lời giải đáp vì sao các mối ghép giữa các viên đá với nhau lại khít như vậỵ Mặt khác, Đa vi du uýt còn dự đoán rằng: số no lệ lao động trên công trường vào thời ấy không quá 1500 người mà không phải là 100,000 người như Heroestos nêu rạ Lời giải thích này hoàn toàn thống nhất với quan điểm của đại đa số người trước đây, cho rằng người Ai Cập cổ hoàn toàn có đủ khả năng tự thiết kế và hoàn thành việc xây dựng Kim Tự Tháp.
ST

Bí ẩn kim tự tháp

Trong 7 kỳ quan của thế giới cổ đại, thì Kim Tự Tháp Ai Cập được xếp hàng đầụ Trong quần thể Kim Tự Tháp Ai Cập thì đứng đầu lại là lăng mộ của quốc vương Đệ Tứ - Kim Tự Tháp Khê Ốp (Khéóp) là tráng lệ nhất.
Kim Tự Tháp Khê Ốp được xây vào năm 2600 trước Công Nguyên, gồm 2,300,000 phiến đá cực lớn, nặng trung bình 2.5 tấn xếp chồn lên nhau. Tổng trọng lượng của Kim Tự Tháp là 60,000,000 tấn, tương đương với độ cao của tòa nhà cao chọc trời 40 tầng. Với con mắt người hiện đại thì bản thân nó đã trở thành một câu hỏi cực lớn và một dấu than lớn làm day dứt biết bao thế hê.. Kim Thự Tháp Khê Ốp chứa hàng loạt các câu hỏi khiến ta không thể không bàn tới. *Thứ Nhất: Kim Tự Tháp được kết cấu và thiết kế với các số liệu vô cùng chính xác. Tháp cao 146.5 x 1000 triệu thì tương đương với khoảng cách từ Trái Đất tới Mặt Trời, lấy 2 lần chiều cao tháp chia cho diện tích tháp 52,900 mét vuông thì sẽ là số p (3.14159). Đường kinh tuyến đi qua tháp vừa đúng là đường phân chia hai nửa bằng nhau giữa lục địa và hải dương của quả đất. Còn bình phương chiều cao tháp thì bằng diện tích hình tam giác của một mặt tháp. Nếu kéo dài đường góc đối hình vuông góc đáy tháp thì vừa đúng bao gồm vùng Tam Giác Châu cửa sông Nilẹ Còn kéo dài đường chia đôi hướng dọc từ điểm đỉnh tam giác sẽ đi qua đường chia đôi của chau thổ này . *Thứ hai: Đo lường kiến trúc vô cùng chính xác. Tất cả đầu đá mặt tháp đều được xếp chồng lên nhau và dựa vào trọng lượng của bản thân để liên kết mà không dùng bất cứ một chất kết dính nàọ Các khe hở ở bề mặt thân tháp và đầu đá xếp khít với nhau tới mức một lưỡi dao cực sắc, cực mỏng cũng không thể luồn vào được. Chênh lệch độ cao ở góc Ddông Nam và góc Tây Bắc chỉ tới 1.27 cm. Sai lệch chiều dài các cạnh đáy cũng không quá 20 cm, dung sai không quá 9/1000. *Thứ ba: Có nhiều lực thần bí siêu tự nhiên. Bên trong Kim Tự Tháp như một chiếc tủ lạnh cực lớn. Nếu đem sữa tươi, nước quả, hoa quả, thịt tươi đặt vào trong đó vài ngày vẫn giữ được như mớị Nếu gieo mần các loại sản phẩm ở trong Kim Tự Tháp thì thời gian sinh trưởng ngắn hơn vài lần so với gieo trồng ở ngoài tháp mà sản lương lại cao, chắc hạt. Các vật bằng kim loại đang có các vết đốm gỉ nếu đặt trong Kim Tự Tháp một thời gian sẽ trở lên sáng bóng lấp lánh. Ngoài ra trong tháp còn có hiệu ứng gây tê và chống thối rữạ Người nao suy nhược thần kinh, nếu nằm ngủ trong tháp sẽ nhanh chóng đi vào giấc mô.ng. Người khó chịu toàn thân, bao gồm đau đầu, đau răng, phong thấp, viêm khớp ... khi vào tháp sẽ cảm thấy dễ chịu, tinh thần sảng khoái, đau đớn tiêu tán. Những cây gỗ còn ở trong tháp đều được thoát (bay) nước tự nhiên và diệt khuẩn, có thể tồn trữ đã vài ngàn năm mà vẫn không bị mục. Các nhà khoa học phát hiện trong Kim Tự Tháp thực tế có một loại khoảng không dao động viba tương đối tốt. Trong khoang này, hiệu ứng viba (kể cả hiệu ứng nhiệt) được phát huy một cách đầy đủ. Ddiều này làm cho gỗ trong tháp được bảo quản lâu dàị Các nhà khoa học còn phát hiện trong tháp còn tồn tại sóng vũ trụ rất lớn, có ảnh hưởng với mức độ khác nhau ở đầu và cơ thể ngườị Vậy sóng vũ trụ trong tháp từ đâu tớỉ Các nhà nghiên cứu cho rằng: trong quần thể Kim Tự Tháp Ai Cập (gần trên 70 tháp nằm rải rác vùng Chi-Tát, hai bên vờ hạ lưu sông Nil và một khu rộng lớn ở phía Nam) thì tháp nào cũng đều có hướng chính Nam đi Bắc và không hề có sai lê.ch. Theo hướng này thì hoàn toàn đúng với đường sức từ của trái đất, như vậy sẽ làm cho đường sức từ đi qua tháp được nhiều nhất. Bên trong tháp còn có đá hoa cương thu nhận sóng vũ trụ và có khả năng tích điện. Bên ngoài tháp lại là đá vôi không thể thu nhận, tồn trữ các loại điện năng và sóng vũ tru.. Như vậy đá hoa cương trong tháp sau khi đã tiếp nhận, tồn trữ từ năng quả đất và sóng vũ trụ thì dùng đá vôi ở bên ngoài tháp đề phòng khuếch tán. Chính vì vậy, trải qua trên 4000 năm, bên trong Kim Tự Tháp đã thu nhận và tồn trữ một lượng rất lớn sóng vũ trụ và năng lượng địa cầụ Từ những gợi ý về kết cấu của Kim Tự Tháp Ai Cập, hiện nay đã có nhiều nước xây dựng các vật kiến trúc theo kiểu Kim Tự Tháp với nhiều hình dáng khác nhau để tiến hành thử nghiệm. Có nói thì xây kho theo đúng kiểu Kim Tự Tháp dùng để bảo quản lâu dài lương tực hoặc là các kho chứa vật dự trữ chiến tranh. Vậy thi ai là người xây Kim Tự Tháp lớn nhất (Kim tự Tháp Khê Ốp) và hoàn thành công trình vĩ đại này như thế nàỏ Ngày nay, mọi người không ai nghi ngờ gì về vị vua thứ 4 của Ai Cập cỗ là người đã đề xướng và xây nên Kim Tự Tháp lớn nhất. Vì hầu như toàn bộ các băn bia và sách cổ của ai Cập lưu giữ đều nói khá rõ việc nàỵ Nhưng có nhà nghiên cứu lại cho rằng: NẾu theo sức lao động của người đương thời thì Kim Tự Tháp lớn cơ hồ không thể xây dựng được xong trong thời gian cuộc đời Khê Ốp. Giáp định ở đây có khả năng Khê ốp ngụy tạo ra các văn bia và thư tịch về người xây dựng Kim Tự Tháp lớn nhằm đề cao cái uy cái đức và công lao của ông tạ Thủ pháp này vào thời cổ không phải là hiếm thấỵ Trong thư viện Bô Ddéc Li An đại học oxford phía bắt nước Anh có lưu giữ một bản thảo cho thấy: Kim Tự Tháp lớn là do quốc vương Sô Lít cách thời Khê ốp khá xa đề xướng xây dư.ng. Bản thảo này là di cảp của Ma Si Út - nhà văn người Kô phút Ai Cập. Ttác giả đã qua một thời gian dài nghiên cứu điều tra cho biết: Trước đại hồng thủy, nhà vua hiền Su - bít trị vì Ai Cập đã từng ra lệnh cho tín đồ của mình là ghi chép tất cả những học vấn của mình lại và lưu cất trong Kim Tự Tháp. Tác giả còn vạch rõ rằng theo truyền thuyết của người Kô phút thì Kim Tự Tháp thực ra là được xây dựng vào trước thời đại Hồng Thủỵ Như vậy, nó có trước vài trăm năm thời Khê ốp. Trong cuốc lịch sử (quyển 2) của nhà sử học Hy Lạp cổ Hêrodotos xác thực là có sự suy diễn nàỵ Bây giờ chúng ta hãy tìm hiê/u số lượng người tham gia xây dựng tháp và thời gian xây dựng nó thực tế phải mất bao lâủ Theo Herodotos (ông đã đến Ai Cập thế kỷ 5 trước Công Nguyên và đã khảo sát thực địa Kim Tự Tháp) thì việc xây dựng đại Kim Tự Tháp này phải mất tổng cộng 30 năm. Thợ xây được chia thành từng kíp 100,000 ngườị Mỗi kíp thợ phục dịch 3 tháng, luôn phiên thay đổị Nhưng theo một nhà nghiên cứu khác lại cho rằng: theo điều kiện đương thời, chưa có cần cẩu và các máy móc vận chuyển hiện đại, chỉ có thể dựa vào con lăn, đòn bẩy và các dụng cụ thủ công khác. Vậy thì làm thế nào đê/ đưa khối đá lớn nặng 2.5 tấn tới độ cao trên 100 mét? Quá trình thao tác sẽ phải như sau: Trươc' hết phải xây xong lớp mặt nền, sau đó đắp dốc bằng đất có độ cao bằng tầng thứ nhâ"t rồi trượt theo dốc đâ"t mà kéo đưa đá lên tầng 2 ... Khi xây xong tháp mới chuyê/n đất đi để lộ Kim Tự Tháp rạ Tính toán theo cách làm này thì mỗi ngày thực tế chỉ có thể xâyđược 10 khối đá, mà toàn bộ Kim tự tháp dùng tới 2,300,000 khối đá lớn thì phải dùng tới 230,000 ngày tức là 630 năm. Do đó, tháp xây xong mà Su lít vẫn chưa nhìn thấp còn Khê ốp thì ngôn ăn sẵn mà được hưởng. Về việc này, lại có học giả cho rằng: Thời bấy giờ gỗ ở Ai Cập rất hiếm, mà phần nhiều là cây co.. NGười Ai Cập lại không biết chặt đẽo làm thành côn lăn. Hơn nữa, quả cọ lại là thực phẩm không thể thiếu được của ho.. Thân cọ khô và lá cọ là vật liệu duy nhất dùng để che nắng, chống nóng của dân vùng nàỵ Nói về công cụ vận chuyển để xây tháp là con lăn thì người Ai Cập cổ chỉ có thể nhập khẩu gỗ về, mà khả năng của nước Ai Cập thời đó liệu có làm nổi không? Ngoài ra muốn nhập khẩu được gỗ thì phải có một đội thuyền khả quan, phải chặt gỗ từ núi Ali, chuyển ngược dòng sông Nil, tới Cai-rô, Chi-tạ Vào thời xây tháp, người Ai Cập lại chưa có ngựa và xe ngựạ Mãi tới vương triều thứ 17 - Khoảng năm 1600 trước CN thì ngựa và xe ngựa mới thấy có ở Ai Cập. Vậy thì với số lượng gỗ lớn như vậy, sẽ không có cách nào đưa được tới Cai-rô, Chi-ta ... Nhà học giả PunĐdan-Ni ken đề xuất: Kim tự tháp Ai Cập, đặc biệt là Kim Tự Tháp Khê ốp là do người ngoài hành tinh thực hiện. O6ng cho rằng Ai Cập cổ xưa chưa có kỷ thật đo lường, vùng này lại thiếu đá và gỗ, không thể làm được một công trình kiến trúc cao to như vậỵ Ông còn nhất mạnh: Muốn xây ngọn Kim Tự Tháp như vậy thì ngoài số thợ có mặt tại công trường xây tháp, còn phải có một đội ngũ hậu cần phục vụ rất lớn. Nếu kể cả thành viên trong gia đình đi theo thì cần phải có tới 500,000,000 người mới ứng phó được. Nhưng theo suy đoán số nhân khẩu vào năm 2600 trước CN thì thế giới lúc bấy giờ chưa vượt quá 20,000,000 người (về số liệu này tuyệt đại đa số các chuyên gia đều công nhận như vậy). Vì thế, Đan-Ni-Ken đoán rằng: Nhất định là có người ngoài hành tinh mang theo dụng cụ đo khoảng cách bằng tia laser, máy tính điện tử và cần cẩu ... hạ xuống vùng hạ lưu sông Nil để xây dựng Kim Tự Tháp. Theo các báo cáo gần đây, nhóm khảo cổ học của tiến sĩ Pon-Gia-Lu phát hiện một đố.ng vật đóng băng trong một buồng kín ở Kim Tự Tháp. Họ đã dùng các máy móc thám trắc hiện đại để đo kiểm phát hiện thấy con vậy này có nhịp tim và báo hiệu có huyết áp. Tiến sĩ Ga-ba cho rằng: Con vật này vẫn là sinh vật có sức sống, tin rằng nó đã tồn tại 5000 năm trước. Ngoài ra được biết trong phòng kín (mật thất) này còn có một cuốn sách ghi chép bằng chữ tượng hình. Cuốn sách có ghi cách đây 500 năm về trước có một cỗ xe "thiên mã" đi vào gần thành Cai-rô để lại một người "Sinh hoàn giả". Ddây là một nhà thiết kế, khả năng người này đã thiết kế ra Kim Tự Tháp. Kim tự Tháp này dùng làm tháp tín hiệu thông báo cho đồng loại ở bầu trời tới cứu viện. Nhà hóa học đương đại người Pháp là Da-viđu-uyt, lại có một cách giải thích khác. Ông cho rằng: Những khối đá lớn xây dựng Kim Tự Tháp là những khối đá nhân tạo đổ ép lại, không phải là đá thiên nhiên, ông đã lấy mẫu các viên đá nhỏ thu được ở Kim Tự Tháp đem về hoá nghiệm. Kết quả cho thấy những viên đá này được làm từ những mỏ đá vỏ sò. Vì thế, thời bấy giờ rất có khả năng sử dụng phương pháp "Hóa chỉnh vi linh" tức là trước hết cho bê tông đã trộn vào các khoang sọt rồi mới đưa lên Kim Tự Tháp đang xây, từ đấy mới đúc từng khối một, từng tần từng tầng cao dần. Với giả thuyết này cũng có thể là lời giải đáp vì sao các mối ghép giữa các viên đá với nhau lại khít như vậỵ Mặt khác, Đa vi du uýt còn dự đoán rằng: số no lệ lao động trên công trường vào thời ấy không quá 1500 người mà không phải là 100,000 người như Heroestos nêu rạ Lời giải thích này hoàn toàn thống nhất với quan điểm của đại đa số người trước đây, cho rằng người Ai Cập cổ hoàn toàn có đủ khả năng tự thiết kế và hoàn thành việc xây dựng Kim Tự Tháp.
ST

Bí ẩn kim tự tháp

Trong 7 kỳ quan của thế giới cổ đại, thì Kim Tự Tháp Ai Cập được xếp hàng đầụ Trong quần thể Kim Tự Tháp Ai Cập thì đứng đầu lại là lăng mộ của quốc vương Đệ Tứ - Kim Tự Tháp Khê Ốp (Khéóp) là tráng lệ nhất.
Kim Tự Tháp Khê Ốp được xây vào năm 2600 trước Công Nguyên, gồm 2,300,000 phiến đá cực lớn, nặng trung bình 2.5 tấn xếp chồn lên nhau. Tổng trọng lượng của Kim Tự Tháp là 60,000,000 tấn, tương đương với độ cao của tòa nhà cao chọc trời 40 tầng. Với con mắt người hiện đại thì bản thân nó đã trở thành một câu hỏi cực lớn và một dấu than lớn làm day dứt biết bao thế hê.. Kim Thự Tháp Khê Ốp chứa hàng loạt các câu hỏi khiến ta không thể không bàn tới. *Thứ Nhất: Kim Tự Tháp được kết cấu và thiết kế với các số liệu vô cùng chính xác. Tháp cao 146.5 x 1000 triệu thì tương đương với khoảng cách từ Trái Đất tới Mặt Trời, lấy 2 lần chiều cao tháp chia cho diện tích tháp 52,900 mét vuông thì sẽ là số p (3.14159). Đường kinh tuyến đi qua tháp vừa đúng là đường phân chia hai nửa bằng nhau giữa lục địa và hải dương của quả đất. Còn bình phương chiều cao tháp thì bằng diện tích hình tam giác của một mặt tháp. Nếu kéo dài đường góc đối hình vuông góc đáy tháp thì vừa đúng bao gồm vùng Tam Giác Châu cửa sông Nilẹ Còn kéo dài đường chia đôi hướng dọc từ điểm đỉnh tam giác sẽ đi qua đường chia đôi của chau thổ này . *Thứ hai: Đo lường kiến trúc vô cùng chính xác. Tất cả đầu đá mặt tháp đều được xếp chồng lên nhau và dựa vào trọng lượng của bản thân để liên kết mà không dùng bất cứ một chất kết dính nàọ Các khe hở ở bề mặt thân tháp và đầu đá xếp khít với nhau tới mức một lưỡi dao cực sắc, cực mỏng cũng không thể luồn vào được. Chênh lệch độ cao ở góc Ddông Nam và góc Tây Bắc chỉ tới 1.27 cm. Sai lệch chiều dài các cạnh đáy cũng không quá 20 cm, dung sai không quá 9/1000. *Thứ ba: Có nhiều lực thần bí siêu tự nhiên. Bên trong Kim Tự Tháp như một chiếc tủ lạnh cực lớn. Nếu đem sữa tươi, nước quả, hoa quả, thịt tươi đặt vào trong đó vài ngày vẫn giữ được như mớị Nếu gieo mần các loại sản phẩm ở trong Kim Tự Tháp thì thời gian sinh trưởng ngắn hơn vài lần so với gieo trồng ở ngoài tháp mà sản lương lại cao, chắc hạt. Các vật bằng kim loại đang có các vết đốm gỉ nếu đặt trong Kim Tự Tháp một thời gian sẽ trở lên sáng bóng lấp lánh. Ngoài ra trong tháp còn có hiệu ứng gây tê và chống thối rữạ Người nao suy nhược thần kinh, nếu nằm ngủ trong tháp sẽ nhanh chóng đi vào giấc mô.ng. Người khó chịu toàn thân, bao gồm đau đầu, đau răng, phong thấp, viêm khớp ... khi vào tháp sẽ cảm thấy dễ chịu, tinh thần sảng khoái, đau đớn tiêu tán. Những cây gỗ còn ở trong tháp đều được thoát (bay) nước tự nhiên và diệt khuẩn, có thể tồn trữ đã vài ngàn năm mà vẫn không bị mục. Các nhà khoa học phát hiện trong Kim Tự Tháp thực tế có một loại khoảng không dao động viba tương đối tốt. Trong khoang này, hiệu ứng viba (kể cả hiệu ứng nhiệt) được phát huy một cách đầy đủ. Ddiều này làm cho gỗ trong tháp được bảo quản lâu dàị Các nhà khoa học còn phát hiện trong tháp còn tồn tại sóng vũ trụ rất lớn, có ảnh hưởng với mức độ khác nhau ở đầu và cơ thể ngườị Vậy sóng vũ trụ trong tháp từ đâu tớỉ Các nhà nghiên cứu cho rằng: trong quần thể Kim Tự Tháp Ai Cập (gần trên 70 tháp nằm rải rác vùng Chi-Tát, hai bên vờ hạ lưu sông Nil và một khu rộng lớn ở phía Nam) thì tháp nào cũng đều có hướng chính Nam đi Bắc và không hề có sai lê.ch. Theo hướng này thì hoàn toàn đúng với đường sức từ của trái đất, như vậy sẽ làm cho đường sức từ đi qua tháp được nhiều nhất. Bên trong tháp còn có đá hoa cương thu nhận sóng vũ trụ và có khả năng tích điện. Bên ngoài tháp lại là đá vôi không thể thu nhận, tồn trữ các loại điện năng và sóng vũ tru.. Như vậy đá hoa cương trong tháp sau khi đã tiếp nhận, tồn trữ từ năng quả đất và sóng vũ trụ thì dùng đá vôi ở bên ngoài tháp đề phòng khuếch tán. Chính vì vậy, trải qua trên 4000 năm, bên trong Kim Tự Tháp đã thu nhận và tồn trữ một lượng rất lớn sóng vũ trụ và năng lượng địa cầụ Từ những gợi ý về kết cấu của Kim Tự Tháp Ai Cập, hiện nay đã có nhiều nước xây dựng các vật kiến trúc theo kiểu Kim Tự Tháp với nhiều hình dáng khác nhau để tiến hành thử nghiệm. Có nói thì xây kho theo đúng kiểu Kim Tự Tháp dùng để bảo quản lâu dài lương tực hoặc là các kho chứa vật dự trữ chiến tranh. Vậy thi ai là người xây Kim Tự Tháp lớn nhất (Kim tự Tháp Khê Ốp) và hoàn thành công trình vĩ đại này như thế nàỏ Ngày nay, mọi người không ai nghi ngờ gì về vị vua thứ 4 của Ai Cập cỗ là người đã đề xướng và xây nên Kim Tự Tháp lớn nhất. Vì hầu như toàn bộ các băn bia và sách cổ của ai Cập lưu giữ đều nói khá rõ việc nàỵ Nhưng có nhà nghiên cứu lại cho rằng: NẾu theo sức lao động của người đương thời thì Kim Tự Tháp lớn cơ hồ không thể xây dựng được xong trong thời gian cuộc đời Khê Ốp. Giáp định ở đây có khả năng Khê ốp ngụy tạo ra các văn bia và thư tịch về người xây dựng Kim Tự Tháp lớn nhằm đề cao cái uy cái đức và công lao của ông tạ Thủ pháp này vào thời cổ không phải là hiếm thấỵ Trong thư viện Bô Ddéc Li An đại học oxford phía bắt nước Anh có lưu giữ một bản thảo cho thấy: Kim Tự Tháp lớn là do quốc vương Sô Lít cách thời Khê ốp khá xa đề xướng xây dư.ng. Bản thảo này là di cảp của Ma Si Út - nhà văn người Kô phút Ai Cập. Ttác giả đã qua một thời gian dài nghiên cứu điều tra cho biết: Trước đại hồng thủy, nhà vua hiền Su - bít trị vì Ai Cập đã từng ra lệnh cho tín đồ của mình là ghi chép tất cả những học vấn của mình lại và lưu cất trong Kim Tự Tháp. Tác giả còn vạch rõ rằng theo truyền thuyết của người Kô phút thì Kim Tự Tháp thực ra là được xây dựng vào trước thời đại Hồng Thủỵ Như vậy, nó có trước vài trăm năm thời Khê ốp. Trong cuốc lịch sử (quyển 2) của nhà sử học Hy Lạp cổ Hêrodotos xác thực là có sự suy diễn nàỵ Bây giờ chúng ta hãy tìm hiê/u số lượng người tham gia xây dựng tháp và thời gian xây dựng nó thực tế phải mất bao lâủ Theo Herodotos (ông đã đến Ai Cập thế kỷ 5 trước Công Nguyên và đã khảo sát thực địa Kim Tự Tháp) thì việc xây dựng đại Kim Tự Tháp này phải mất tổng cộng 30 năm. Thợ xây được chia thành từng kíp 100,000 ngườị Mỗi kíp thợ phục dịch 3 tháng, luôn phiên thay đổị Nhưng theo một nhà nghiên cứu khác lại cho rằng: theo điều kiện đương thời, chưa có cần cẩu và các máy móc vận chuyển hiện đại, chỉ có thể dựa vào con lăn, đòn bẩy và các dụng cụ thủ công khác. Vậy thì làm thế nào đê/ đưa khối đá lớn nặng 2.5 tấn tới độ cao trên 100 mét? Quá trình thao tác sẽ phải như sau: Trươc' hết phải xây xong lớp mặt nền, sau đó đắp dốc bằng đất có độ cao bằng tầng thứ nhâ"t rồi trượt theo dốc đâ"t mà kéo đưa đá lên tầng 2 ... Khi xây xong tháp mới chuyê/n đất đi để lộ Kim Tự Tháp rạ Tính toán theo cách làm này thì mỗi ngày thực tế chỉ có thể xâyđược 10 khối đá, mà toàn bộ Kim tự tháp dùng tới 2,300,000 khối đá lớn thì phải dùng tới 230,000 ngày tức là 630 năm. Do đó, tháp xây xong mà Su lít vẫn chưa nhìn thấp còn Khê ốp thì ngôn ăn sẵn mà được hưởng. Về việc này, lại có học giả cho rằng: Thời bấy giờ gỗ ở Ai Cập rất hiếm, mà phần nhiều là cây co.. NGười Ai Cập lại không biết chặt đẽo làm thành côn lăn. Hơn nữa, quả cọ lại là thực phẩm không thể thiếu được của ho.. Thân cọ khô và lá cọ là vật liệu duy nhất dùng để che nắng, chống nóng của dân vùng nàỵ Nói về công cụ vận chuyển để xây tháp là con lăn thì người Ai Cập cổ chỉ có thể nhập khẩu gỗ về, mà khả năng của nước Ai Cập thời đó liệu có làm nổi không? Ngoài ra muốn nhập khẩu được gỗ thì phải có một đội thuyền khả quan, phải chặt gỗ từ núi Ali, chuyển ngược dòng sông Nil, tới Cai-rô, Chi-tạ Vào thời xây tháp, người Ai Cập lại chưa có ngựa và xe ngựạ Mãi tới vương triều thứ 17 - Khoảng năm 1600 trước CN thì ngựa và xe ngựa mới thấy có ở Ai Cập. Vậy thì với số lượng gỗ lớn như vậy, sẽ không có cách nào đưa được tới Cai-rô, Chi-ta ... Nhà học giả PunĐdan-Ni ken đề xuất: Kim tự tháp Ai Cập, đặc biệt là Kim Tự Tháp Khê ốp là do người ngoài hành tinh thực hiện. O6ng cho rằng Ai Cập cổ xưa chưa có kỷ thật đo lường, vùng này lại thiếu đá và gỗ, không thể làm được một công trình kiến trúc cao to như vậỵ Ông còn nhất mạnh: Muốn xây ngọn Kim Tự Tháp như vậy thì ngoài số thợ có mặt tại công trường xây tháp, còn phải có một đội ngũ hậu cần phục vụ rất lớn. Nếu kể cả thành viên trong gia đình đi theo thì cần phải có tới 500,000,000 người mới ứng phó được. Nhưng theo suy đoán số nhân khẩu vào năm 2600 trước CN thì thế giới lúc bấy giờ chưa vượt quá 20,000,000 người (về số liệu này tuyệt đại đa số các chuyên gia đều công nhận như vậy). Vì thế, Đan-Ni-Ken đoán rằng: Nhất định là có người ngoài hành tinh mang theo dụng cụ đo khoảng cách bằng tia laser, máy tính điện tử và cần cẩu ... hạ xuống vùng hạ lưu sông Nil để xây dựng Kim Tự Tháp. Theo các báo cáo gần đây, nhóm khảo cổ học của tiến sĩ Pon-Gia-Lu phát hiện một đố.ng vật đóng băng trong một buồng kín ở Kim Tự Tháp. Họ đã dùng các máy móc thám trắc hiện đại để đo kiểm phát hiện thấy con vậy này có nhịp tim và báo hiệu có huyết áp. Tiến sĩ Ga-ba cho rằng: Con vật này vẫn là sinh vật có sức sống, tin rằng nó đã tồn tại 5000 năm trước. Ngoài ra được biết trong phòng kín (mật thất) này còn có một cuốn sách ghi chép bằng chữ tượng hình. Cuốn sách có ghi cách đây 500 năm về trước có một cỗ xe "thiên mã" đi vào gần thành Cai-rô để lại một người "Sinh hoàn giả". Ddây là một nhà thiết kế, khả năng người này đã thiết kế ra Kim Tự Tháp. Kim tự Tháp này dùng làm tháp tín hiệu thông báo cho đồng loại ở bầu trời tới cứu viện. Nhà hóa học đương đại người Pháp là Da-viđu-uyt, lại có một cách giải thích khác. Ông cho rằng: Những khối đá lớn xây dựng Kim Tự Tháp là những khối đá nhân tạo đổ ép lại, không phải là đá thiên nhiên, ông đã lấy mẫu các viên đá nhỏ thu được ở Kim Tự Tháp đem về hoá nghiệm. Kết quả cho thấy những viên đá này được làm từ những mỏ đá vỏ sò. Vì thế, thời bấy giờ rất có khả năng sử dụng phương pháp "Hóa chỉnh vi linh" tức là trước hết cho bê tông đã trộn vào các khoang sọt rồi mới đưa lên Kim Tự Tháp đang xây, từ đấy mới đúc từng khối một, từng tần từng tầng cao dần. Với giả thuyết này cũng có thể là lời giải đáp vì sao các mối ghép giữa các viên đá với nhau lại khít như vậỵ Mặt khác, Đa vi du uýt còn dự đoán rằng: số no lệ lao động trên công trường vào thời ấy không quá 1500 người mà không phải là 100,000 người như Heroestos nêu rạ Lời giải thích này hoàn toàn thống nhất với quan điểm của đại đa số người trước đây, cho rằng người Ai Cập cổ hoàn toàn có đủ khả năng tự thiết kế và hoàn thành việc xây dựng Kim Tự Tháp.
ST

Xá lị - bí ẩn chưa có lời giải

Đó là những hạt tinh thể với đủ màu sắc, long lanh như ngọc, rắn như kim cương, búa đập không vỡ, lửa thiêu không cháy.
Chúng được tìm thấy trong đống tro tàn sau khi hỏa thiêu hài cốt của một nhà tu hành nào đó. Cho đến nay, khi nền khoa học kỹ thuật của nhân loại đã phát triển ở trình độ cao, chúng vẫn tồn tại như một bí ẩn chưa được khám phá.
Xá lị là từ ngữ phiên âm tiếng Phạn: sarira - nghĩa đen là “những hạt cứng”. Theo ghi chép trong lịch sử Phật giáo, khi Phật tổ Thích Ca Mâu Ni viên tịch, các tín đồ đã đem xác của ngài đi hỏa táng. Sau khi lửa tàn, họ phát hiện thấy trong phần tro còn lại có lẫn rất nhiều tinh thể trong suốt, hình dạng và kích thước khác nhau, cứng như thép, lóng lánh và tỏa ra những tia sáng muôn màu, giống như những viên ngọc quý. Họ đếm được cả thảy 84.000 viên, đựng đầy trong 8 hộc và 4 đấu. Nó được đặt tên là xá lị, được coi là một bảo vật đặc biệt quý hiếm của Phật giáo.
Những năm gần đây, lịch sử Phật giáo cũng như nghiên cứu của các nhà khoa học đã ghi lại khá nhiều trường hợp các vị cao tăng sau khi viên tịch, hỏa thiêu đã để lại xá lị, chẳng hạn như:
Tháng 12/1990, một vị cao tăng là Hoằng Huyền Pháp sư ở Singapore viên tịch, sau khi thi thể được hỏa thiêu, người ta phát hiện thấy trong phần tro của ngài có 480 hạt cứng, hạt to cỡ như hạt đỗ tương, hạt nhỏ cỡ bằng hạt gạo, trông gần như trong suốt và tỏa sáng lấp lánh như những hạt kim cương. Sau khi phân tích, các nhà nghiên cứu đã xác định rằng, đó chính là thứ gọi là xá lị.
Tháng 3/1991, Phó hội trưởng Hội Phật giáo Ngũ Đài Sơn - ủy viên thường vụ Hội Phật giáo Trung Quốc, sau khi viên tịch đã được tiến hành nghi thức hỏa táng theo tâm nguyện của ngài, trong phần tro còn lại người ta phát hiện được tới 11.000 hạt xá lị, đạt kỷ lục thế giới từ trước đến nay về những trường hợp xá lị được ghi nhận một cách chính thức.
Viên xá lị có thể to như quả trứng vịt, đó là trường hợp của Pháp sư Khoan Năng, vị chủ trì Tây Sơn Tẩy Thạch Am ở huyện Quế Bình, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Ngày 27/9/1989, ngài viên tịch thọ 93 tuổi. Sau khi hỏa thiêu người ta tìm thấy trong tro hài cốt 3 viên xá lị màu xanh lục, trong suốt, đường kính mỗi viên lên tới 3-4cm, tựa như những viên ngọc lục bảo.
Lại có một số trường hợp, xá lị chính là một bộ phận nào đó của cơ thể không bị thiêu cháy. Tháng 6/1994, Pháp sư Viên Chiếu 93 tuổi, chủ trì chùa Pháp Hoa, ở núi Quan Âm, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc, trong một buổi giảng kinh tối đã nói với các đệ tử là: Ta sẽ để lại trái tim cho chúng sinh. Sau đó vị sư này ngồi kiết già và siêu nhiên viên tịch.
Theo đúng pháp quy của nhà chùa, các đệ tử đặt thi thể bà lên một phiến đá xanh, xếp củi chung quanh và tiến hành hỏa hóa. Lửa cháy sáng rực suốt một ngày một đêm. Trong đống tro nguội, các đệ tử thu được 100 viên xá lị to nhỏ khác nhau. Có viên thì hình tròn (xá lị tử), có viên lại nở xòe ra như những bông hoa (xá lị hoa). Những bông xá lị hoa trông rất đẹp, lóng lánh như những bông hoa tuyết, chung quanh còn được giát bằng những hạt xá lị nhỏ cỡ hạt gạo, sắc đỏ, vàng, lam, nâu... hết sức kỳ diệu. Nhưng điều kỳ diệu hơn cả là trái tim của bà không hề bị thiêu cháy. Sau khi ngọn lửa tắt trái tim vẫn còn mềm, nóng, rồi mới nguội dần và cứng lại, biến thành một viên xá lị lớn, màu nâu thẫm. Khoảng 100 đệ tử có mặt trong lễ hỏa táng đã tận mắt chứng kiến hiện tượng lạ lùng đó. Theo kể lại, Pháp sư Viên Chiếu là người từ bi, tính tình điềm đạm và ôn hòa, thường ngày bà chỉ ăn rất ít. Chùa Pháp Hoa đã cho người mang những viên xá lị đó đến giao lại cho Hội Phật giáo tỉnh Thiểm Tây.
Vài chục năm trở lại đây, giới khoa học bắt đầu tìm cách giải thích những hiện tượng huyền bí được nhà Phật nói đến trong kinh điển như họ đã từng nghiên cứu lý giải các hiện tượng trong thiên nhiên, vũ trụ và con người. Thế nhưng, khi bắt tay vào nghiên cứu hiện tượng xá lị, họ đã gặp phải không ít khó khăn, trở ngại.
Trước đây người ta không tin là có xá lị Phật tổ. Mãi đến năm 1997, ông W.C Peppé, người Pháp, khi tiến hành khảo cổ tại vùng Piprava, phía Nam Népal đã tìm thấy những viên xá lị đựng trong một chiếc hộp bằng đá. Trên hộp có khắc những văn tự Brahmi, và người ta đã đọc được nội dung của nó như sau: “Đây là xá lị của đức Phật. Phần xá lị này do bộ tộc Sakya, nước Savatthi phụng thờ” (Theo Phật quang từ điển). Sự khám phá này đã chứng minh những gì được ghi lại trong Kinh Trường A Hàm và rải rác ở những sách kinh điển của Phật khác về việc phân chia xá lị đức Phật thành 8 phần cho 8 quốc gia cổ đại khi Phật nhập Niết bàn là có thật. Điều kỳ lạ là trải qua hơn 25 thế kỷ, xá lị đức Phật vẫn còn nguyên vẹn, lấp lánh màu sắc.
Về sự hình thành của những viên xá lị, cho đến nay vẫn tồn tại nhiều cách giải thích khác nhau. Các nhà xã hội học cho rằng, do thói quen ăn chay, thường xuyên sử dụng một khối lượng lớn chất xơ và chất khoáng, trong quá trình tiêu hóa và hấp thụ, rất dễ tạo ra các muối phosphate và carbonate, những tinh thể muối đó tích lũy dần trong các bộ phận của cơ thể và cuối cùng biến thành xá lị. Tuy nhiên, giả thuyết này không đủ sức thuyết phục. Bởi lẽ số người ăn chay trên thế giới có tới hàng trăm vạn, nhưng tại sao không phải ai khi bị hỏa táng cũng sinh xá lị. Số người theo đạo Phật cũng nhiều vô kể, thế nhưng tại sao trong cơ thể của những tín đồ bình thường lại không có xá lị?
Các nhà khoa học lại cho rằng, có thể xá lị là một loại hiện tượng có tính bệnh lý, tương tự như bệnh sỏi thận, sỏi bàng quang, sỏi mật... giả thuyết này cũng khó đứng vững. Bởi vì, sau khi đưa xác đi thiêu, trong phần tro của những người mắc các chứng bệnh kể trên, không hề phát hiện thấy có xá lị. Mặt khác, những cao tăng có xá lị thường là những người lúc sinh thời thân thể rất khỏe mạnh và tuổi thọ cũng rất cao.
Nhà Phật cũng có những quan điểm riêng về vấn đề xá lị. Quan điểm thứ nhất cho rằng xá lị là kết quả của quá trình tu hành và khổ luyện. Quan điểm thứ hai cho rằng: xá lị là kết quả của quá trình tu dưỡng đạo đức, chỉ ở những người có tấm lòng đại từ đại bi, luôn làm việc thiện thì sau khi viên tịch mới có thể sinh xá lị.
Tuy nhiên, cuối cùng thì xá lị đã được hình thành như thế nào? Thành phần của nó ra sao? Chẳng phải kim loại, chẳng phải phi kim, cũng chẳng phải kim cương, lục bảo, chỉ là tro cốt còn lại của người tu hành sau khi hỏa táng, vậy mà sao đốt nó hoài cũng không cháy, thậm chí vẫn sáng lấp lánh màu sắc, thách thức với thời gian, chẳng mảy may hư hỏng... Hàng loạt câu hỏi như vậy cho đến nay vẫn là những câu đố chưa có lời giải đáp!
Theo Khoa học

Những chiếc quan tài biết chạy

Đã gần 3 thế kỷ trôi qua, câu chuyện bí ẩn xung quanh chiếc quan tài tự dịch chuyển trong hầm mộ của gia đình Chase ở Barbados vẫn chưa có lời giải đáp. Thủ phạm được cho là nước ngầm, động đất, những kẻ trộm bạo gan hay thậm chí là một thế lực siêu nhiên huyền bí.
Hầm mộ dòng họ Chase là một công trình được xây dựng trong nghĩa trang nhà thờ xứ đạo Oistins thuộc quốc đảo Barbados vào khoảng những năm 1720. Thoạt nhìn, nó là một kiến trúc khá khiêm tốn, nửa chìm nửa nổi trên mặt đất và chẳng có gì nổi bật so với những hầm mộ xung quanh. Nhưng những bí ẩn mà nó cất giữ hàng trăm năm qua thì đáng để người ta phải lưu ý.
Những chiếc quan tài biết chạy
Người đầu tiên đến "định cư" trong hầm mộ là bà Thomasina Goddard, được mai táng tháng 7/1807, sau đó lần lượt đến hai chị em cô bé Mary Ann Maria Chase vào những năm 1808 và 1812. Cho đến lúc đó, vẫn chưa có chuyện gì xảy ra. Nhưng chỉ ít ngày sau, khi hầm mộ được mở ra lần thứ tư để đón nhận thi hài của cha hai cô bé thì tất cả những người đưa tang đều rất sửng sốt vì hai chiếc quan tài nhỏ của chị em Maria Chase đã bị di chuyển khỏi vị trí ban đầu. Thậm chí, quan tài của cô em còn bị dựng đứng lên, phần đầu người chết quay xuống đất. Cho rằng có kẻ đột nhập, người ta đã khiêng các quan tài trở lại nơi cũ, sau đó dùng một tảng đá thật lớn chặn cửa vào hầm mộ và trát kín lại bằng vữa.
Thế nhưng, năm 1819, khi dòng họ Chase lại có người qua đời và tảng đá ở cửa hầm mộ được dời đi để đưa thi hài vào thì chuyện bí ẩn lại tiếp diễn. Những chiếc quan tài trong hầm mộ đều rời khỏi vị trí ban đầu và nằm lộn xộn như ở nhà kho. Trong khi đó, lớp vữa trát ngoài cửa vào vẫn còn nguyên vẹn, nền cát bên trong hầm không hề có dấu vết lạ và mọi thứ đồ tuỳ táng không suy suyển.
Và câu chuyện vẫn chưa chấm dứt. Bởi cho dù các thành viên trong dòng họ Chase có tìm đủ mọi cách để bảo vệ hầm mộ của gia đình thì cứ mỗi lần chôn cất một người thân, họ lại phải chứng kiến cảnh những chiếc quan tài chạy khỏi vị trí mà lần trước họ đã đặt chúng.
Sự việc gây xôn xao dư luận đến mức thống đốc Barbados lúc bấy giờ đã đích thân đến tận nơi xem xét và cho gắn xi lối vào hầm mộ bằng con dấu của mình. Vài tháng sau, khi trở lại, nhận thấy không có biểu hiện gì khác thường, các dấu xi không có vết cậy phá, thống đốc yên tâm cho mở cửa hầm mộ để kiểm tra. Thật ngạc nhiên là tình hình vẫn hỗn loạn như cũ. Chỉ duy nhất có chiếc quan tài bằng gỗ đã mục nát của bà Thomasina Goddard là còn ở nguyên vị trí. Tất cả số còn lại đều bị xê dịch đáng kể, chiếc đứng, chiếc nằm, chẳng theo trật tự nào. Không một dấu vết nào, dù là nhỏ nhất, cho thấy có sự đột nhập từ bên ngoài.
Sau sự kiện này, gia đình Chase đã chuyển hết quan tài của người thân đi nơi khác chôn cất. Hầm mộ bị bỏ không và trở thành một địa điểm du lịch cho đến nay.
Các giả thuyết đều chưa thuyết phục
Giả thuyết đầu tiên được nghĩ đến là đã có bàn tay cố ý phá hoại của người ngoài. Dòng họ Chase có nhiều thành viên là quân nhân trong quân đội Anh, từng bị dân bản xứ coi như những kẻ xâm lược nên việc có ai đó muốn quấy rối giấc ngủ ngàn năm của họ cũng là điều có thể hiểu được. Nhưng chưa ai chỉ ra được bất cứ dấu vết nào cho thấy có sự đột nhập từ bên ngoài. Hơn nữa, hầm mộ nằm ở một vị trí rất dễ quan sát. Sau khi những câu chuyện lạ liên tiếp xảy ra, nó trở thành một địa điểm được chú ý nhất ở Barbados. Thật khó có ai đó đột nhập vào bên trong mà không để bị bắt gặp.
Một giả thuyết khác là nước ngập có thể đẩy các quan tài trôi khỏi vị trí. Nhưng hầm mộ nằm cao hơn mặt nước biển 30 m và lúc nào cũng khô ráo. Vậy thì nước ở đâu ra?
Cũng có người cho rằng nguyên nhân là địa chấn. Nhưng Barbados không nằm trong phạm vi núi lửa hoạt động. Vả lại, nếu động đất thì tại sao tất cả các hầm mộ nằm sát cạnh đều không bị ảnh hưởng.
Tác giả Eric Frank Russell trong cuốn Những bí ẩn lớn nhất của thế giới (1957) cho rằng thủ phạm là một lực từ trường khiến các quan tài bằng chì quay quanh một trục nào đó. Nhưng chì không phải là chất liệu bị ảnh hưởng bởi các lực từ trường thông thường nên cách lý giải này cũng không đủ sức thuyết phục. Bí ẩn về những chiếc quan tài biết chạy vì thế vẫn tiếp tục ám ảnh những du khách đến thăm hầm mộ họ Chase.
Theo Khoa Học - Đời Sống

Lời nguyền của phù thủy nước Anh

Tin đồn phù thủy xuất hiện tại nghĩa trang thành phố Newcastle sau hàng trăm năm bị treo cổ đang gây xôn xao dư luận nước Anh. Người ta tin răng, đã có một công nhân phải chịu hậu quả của lời nguyền sau khi nhặt những mảnh vụn của hộp sọ tại nghĩa trang St Andrew's.
Các công nhân đã tìm thấy răng, các mảnh sọ và một chiếc xương sườn bên ngoài nhà thờ St Andrew's nằm trên phố Newgate, Newcastle trong quá trình đào một cái rãnh để lắp đặt hệ thống thắp sáng nhà thờ. Những phần hài cốt này được cho là của các “phù thủy” bị chôn trong một cái hố tại nghĩa trang của nhà thờ sau khi bị treo cổ tại Town Moor.
Bill Atkinson - người trông nom nhà thờ cho biết những chiếc xương này tiếp tục lộ ra, đặc biệt là sau khi trời mưa. Ông nói: “Họ đào cái rãnh này và tìm thấy những mảnh xương và xương sọ. Một người công nhân nhặt những mảnh sọ lên và rất hào hứng đưa cho mọi người xem. Ngày hôm sau, người công nhân đó thấy đau. Người bác sỹ khám bệnh cho anh ta không phát hiện ra đó là bệnh gì”. Lớp xương trong cái rãnh đó lộ ra ngày càng nhiều mỗi lần trời mưa.
Theo sổ khai tử của nhà thờ St Andrew's, có khoảng 16 nữ phù thủy và 1 thầy phù thủy bị chôn trong nghĩa trang này. Họ bị treo cổ vào ngày 21/8/1650 tại Town Moor. Thời kỳ đó, mỗi người tố cáo một phù thủy sẽ được thưởng 1 đồng guinea -khoản tiền rất lớn. Những người bị tố cáo ngay sau đó sẽ chịu hình phạt treo cổ tại Town Moor, trước hàng trăm người, rồi bị ném vào một cái hố trong nghĩa trang của nhà thờ. Không chỉ một mình Bill mà nhiều người khác sống ở đây vẫn tin rằng linh hồn của họ vẫn quanh quẩn đâu đó. Trong lịch sử nước Anh, người ta thống kê được khoảng 1560 đến 1650 phiên xét sử phù thủy diễn ra trên toàn quốc nhưng chẳng có phiên tòa nào đặt câu hỏi liệu phép thuật có thực sự tồn tại. Đại diện Hội đồng thành phố Newcastle nói: “Nghĩa trang của nhà thờ St Andrew's là một địa điểm lịch sử rất quan trọng nằm ở trung tâm của thành phố và là một trong những nghĩa địa lâu đời nhất có từ thế kỷ thứ 12. Chúng tôi thấy nghi ngờ về việc làm thế nào để chứng tỏ đây là xương của phù thủy. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ gặp gỡ những người làm việc trong nhà thờ để tìm hiểu thêm xem người ta đã thu được những gì”.
Theo Chroniclelive

Chuyện về Bạch đại ngải

Cũng giống như Phù phấn Ngải, Bạch đại ngải được làm từ nguyên liệu chính là một loại thực vật có tính độc. Loại ngải này không được phổ biến rộng rãi trong dân gian và nghe nói là đã thất truyền từ hàng trăm năm nay. Nguyên nhân chính có lẽ do cây Bạch đại ngải vốn rất hiếm gặp.
Bạch đại ngải chỉ thỉnh thoảng mới được tìm thấy ở trong rừng sâu. Đây là một loại cây có hình dạng và hoa rất đẹp. Nhưng, nơi nào loại cây này xuất hiện thì tính độc của nó khiến các loại thú không dám sinh sống ở xung quanh. Do đó, người ta cũng cho rằng, nếu người trồng nó mà không đúng quy cách có thể gây hại cho chính bản thân mình và người thân. Tuy nhiên, cũng như Phù phấn ngải, nếu biết sử dụng, loại ngải này còn có tác dụng chữa bệnh cứu người theo đúng nguyên tắc “dĩ độc công độc” trong y học. Thậm chí, người ta còn cho rằng, Bạch đại ngải còn có tác dụng cải tử hoàn sinh. Nếu là thật, có thể nói là đây là một loại dược liệu quý hiếm.
Xung quanh việc trồng Bạch đại ngải cũng không ít lời đồn đại. Có người cho rằng, để nhổ được cây ngải lên mà không gây hại cho bản thân thì người nhổ phải luôn miệng đọc một câu thần chú, vừa có tác dụng trách gây hại và tăng cường hiệu quả cho cây. Tuy nhiên, thực hư chuyện này còn có lắm điều phải bàn lại.
Ngày xưa, những người luyện ngải xem cây bạch ngải quý giá chẳng khác sinh mạng mình và nếu nhà luyện ngải trao cây bạch đại cho ai thì cũng rất thận trọng, ít ra đó là cháu hoặc thân thích, ngoài ra chỉ những ngừoi hợp tuổi tác và căn mạng thì ông thầy mới trao cho. Họ cho rằng, một người trồng cây Bạch đại ngải mà không được quyền phép của nhà chuyên môn trao cho thì hậu quả vô cùng tai hại mặc dầu trồng để chỉ chơi hoa cho đẹp. Thậm chí, người đó còn có thể gặp những tai hoạ bất ngờ có khi nguy cả đến tính mạng.
Tổng hợp từ nhiều nguồn

Cú phôn từ bên kia thế giới


Đây là một hiện tượng đã xảy ra khá nhiều trên thế giới. Những người sống nhận được điện thoại từ người thân đã qua đời, và thông thường, người đã khuất thường có mối quan hệ tình cảm khá mật thiết với người nhận điện.Trong những cuộc gọi như vậy, chuông điện thoại thường rung lên như bình thường, hoặc cũng có thể réo lên với những âm thanh khác thường. Sóng điện thoại được kết nối rất tồi và giọng nói của người đã khuất thường không rõ. Tuy nhiên, người nhận điện có thể ngay lập tức nhận ra giọng nói quen thuộc của người thân. Theo thống kê, những cuộc điện thoại thường diễn ra trong khoảng 24 giờ sau khi người chết qua đời, cá biệt, có người còn nhận được điện thoại của người thân đã qua đời từ 2 năm trước. Nói chung mục đích của những cuộc điện thoại thần bí này thường chỉ là gửi lời chào vĩnh biệt, báo trước một mối nguy hiểm sắp xảy đến hoặc những thông tin cần thiết cho người còn sống.Những người hoài nghi cho rằng những cuộc điện thoại trên thực chất chỉ là những trò lừa đảo hoặc do ảo giác của người nhận. Nhưng một nhóm các nhà khoa học đã thực hiện các chương trình nghiên cứu nghiêm túc về đề tài này, thậm chí đã ghi âm được giọng nói của người đã khuất qua băng cát-xét.Kể từ đó, giới khoa học thế giới đã miệt mài nghiên cứu với hy vọng cho ra đời một phương tiện liên lạc có thể “kết nối” giữa người sống và người chết.Trong một bài báo được đăng trên tờ “The Scientific American” năm 1921, nhà bác học Thomas Edison đã viết: “Tính cách của con người bao gồm ký ức, trí tuệ, những khả năng và kiến thức mà chúng ta thu nhận được trong quá trình sống. Tính cách con người luôn luôn tồn tại ngoài khả năng ý thức của chúng ta, kể cả sau khi chúng ta đã qua đời. Do vậy, hoàn toàn có thể kết luận rằng những người đã khuất sẽ rất muốn liên lạc lại với phần ý thức vẫn còn tồn tại trên trái đất của họ. Những phần ý thức này sẽ lại tiếp tục tồn tại trong một cuộc sống mới. Tôi tin rằng người đã khuất và người sống hoàn toàn có thể giao tiếp với nhau thông qua một dụng cụ nào đó mà cho đến nay, con người vẫn chưa tìm ra.” Mặc dù tin chắc như vậy, cho đến khi qua đời vào năm 1931, nhà bác học Edison vẫn chưa hoàn thành tâm nguyện phát minh ra chiếc máy kết nối giữa người sống và người đã chết.
Theo Yahoo

Những công trình tâm linh độc đáo nhất

Không chỉ mang lại cho du khách những ấn tượng sâu sắc nhờ thiết kế độc đáo, những tu viện của nhiều dòng tu khác nhau trên thế giới còn đem đến những điều ngạc nhiên hết sức thú vị.
Chùa Shwedagon (Mianma)Không ai biết chính xác ngôi chùa Shwedagon ở Mianma được xây dựng từ khi nào. Theo truyền thuyết nó đã có 2500 trước đây mặc dù những nhà khảo cổ học ước tính rằng nó được xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 10.Ngày nay, khi bất cứ ai nhắc đến “ngôi đền vàng”, có nghĩa rằng họ muốn ám chỉ cấu trúc ngôi đền được dát màu vàng. Tuy nhiên, ở Shwedagon, được dát vàng theo nghĩa đen có nghĩa là được dát vàng thực sự. Vào thế kỷ 15, một vị nữ hoàng của người Môn đã ban tặng cho ngôi chùa này số lượng vàng bằng chính trọng lượng của bà. Truyền thống này vẫn còn được tiếp diễn cho đến tận ngày nay, nơi những người hành hương thường tiết kiệm trong rất nhiều năm để mua những gói lá vàng nhỏ để đính vào các bức tường trong ngôi chùa.Vì rằng chẳng biết bao nhiêu vàng cho đủ, chiếc chóp của tháp chứa hài cốt các vị sư và mái vòm được dát với trên 5000 viên kim cương và 2000 viên đá hồng ngọc. Ngôi chùa này sở hữu một trong những thánh tích linh thiêng nhất của Đạo Phật: đó chính là 8 sợi tóc của Phật.
Đền Chion-in (Nhật Bản)Ngôi đền Chion-in được xây dựng vào năm 1234 sau Công Nguyên nhằm để ca ngợi người sáng lập ra đạo Phật, một thầy tu có tên là Honen, người đã nhịn đói mà chết trong hoàn cảnh khó khăn. Tổng thể ngôi đền có 21 tòa nhà tuy nhiên do động đất và hỏa hoạn đã thiêu hủy một số, tòa nhà tồn tại lâu đời nhất là tòa nhà được xây từ thế kỷ 17.Những khách tham quan ngôi đền Chion-in cần phải đi qua chiếc cổng lớn nhất ở Nhật: Chiếc cổng Sanmon có hai tầng. Chiếc chuông của ngôi đền này cũng là một kỷ lục: nặng 74 tấn và cần đến 17 vị hòa thượng rung chuông trong lễ đón mừng năm mới.Một đặc điểm thú vị khác của ngôi đền Chion-in chính là chiếc sàn nhà “biết hát” của căn phòng lớn. Được người ta gọi với cái tên sàn nhà uguisu-bari hay sàn nhà chim sơn ca, tấm ván bằng gỗ được thiết kế để tạo nên tiếng kêu cọt kẹt cho mỗi bước đi nhằm báo hiệu cho các vị hòa thượng nhận ra những người đột nhập.
Đền Tiger’s Nest Monastery (Bhutan)
Tiger’s Nest Monastery còn có tên là Taktshang Goemba, ngôi đền nổi tiếng nhất tại Bhutan bởi sự hiểm trở mà du khách cảm nhận được khi có dịp đến đây. Toàn bộ đền nằm cheo leo trên vách đá cao 3.120 m, ngay trên miệng thung lũng Paro (cách 700 so với đáy thung).
Tiger’s Nest Monastery có nghĩa là nơi ẩn náu của hổ. Theo truyền thuyết, đức Guru Rinpoche - Đức phật thứ hai đã bay lên trên bờ vực này trên lưng của một con hổ cái và sau đó ở đó trầm tư trong một chiếc hang ngày nay được bao vây bởi các bức tường của ngôi đền này. Đền được xây dựng vào năm 1692 và xây dựng lại vào năm 1998 sau khi nó rơi vào một vụ hỏa hoạn. Toàn bộ kiến trúc của đền gồm có 7 đền thờ, tất cả đều mở rộng cửa đón du khách đến tham quan. Điều mà hầu hết du khách thích thú khi đến tham quan tu viện này là họ được dịp thể hiện khả năng trèo núi và sức khỏe dẻo dai.
Tu viện Madonna del Sasso (Thụy Sĩ)
Nhà thờ Madonna del Sasso được xây kèm tu viện Capuchin nằm trên khu vực đồi Locarno, Thụy Sĩ. Thị trấn cổ kính xinh đẹp Madonna del Sasso được bao bọc bởi một hồ lớn, quanh năm tràn ngập ánh nắng.
Tu viện được xây dựng để thờ Đức mẹ đồng trinh Mary. Điểm đặc biệt của tu viện này là bảo tàng nghệ thuật sưu tầm rất nhiều tác phẩm nghệ thuật quý hiếm của thế giới.
Đền Wat Rong Khun (Thái Lan)Wat Rong Khun nằm ở Chiềng Mai, Thái Lan là một ngôi đền khác biệt với bất kỳ ngôi đền nào trên thế giới. Cấu trúc trang trí công phu và toàn màu trắng được mạ những hình khảm phản chiếu ánh sáng mặt trời một cách kỳ diệu, được xây dựng theo một phong cách hiện đại rõ rệt. Đây chính là sản phẩm trí tuệ của nghệ sỹ người Thái lừng lanh mang tên Chalermchai Kositpipat.Thực sự, ngôi đền vẫn còn đang được hoàn tất xây dựng. Chalermchai hy vọng rằng khoảng 90 năm nữa, ngôi đền sẽ hoàn thành, trở thành ngôi đền phật giáo tương đương với nhà thờ Sagrada Familia ở Barcelona, Tây Ban Nha.
Tu viện Yumbulagang (Tây Tạng)
Yumbulagang (còn được gọi là “cung điện mẫu tử”) là cung điện đầu tiên được xây dựng tại Tây Tạng chính vì thế mà đến nay, cung điện này đã có hơn 2.000 năm tuổi. Bị phá hủy trong thời kỳ Cách mạng văn hóa rồi được xây dựng lại vào đầu những năm 1980, cung điện này sở hữu những bức tường được trang trí bằng những bích họa đẹp tuyệt vời. Những nét vẽ bay bướm phản ánh rõ nét lịch sử lâu đời của Tây Tạng.
Theo người xưa, cung điện này được dựng lên dành riêng cho Nyatri Tsanpo, vị hoàng đế đầu tiên của Tây Tạng, vào thế kỷ thứ 2 trước công nguyên. Sau đó, nơi này trở thành cung điện mùa hè của hoàng tử Gampo và công chúa Wencheng. Thời Dalai Lama thứ 5 đã biến cung điện này thành tu viện của môn phái Old-Yellow Hat Sect.
Đền Prambanan (Inđônêxia)Prambanan là một ngôi đền Hindu nằm ở trung tâm của Java, Inđônêxia. Ngôi đền này được xây dựng vào năm 850 sau Công Nguyên và được xây dựng nên với 8 chiếc điện thờ chính và hơn 250 chiếc nhỏ ở xung quanh.Gần như tất cả các bức tường của ngôi đền được trang trí với những hình khắc phù điêu tinh tế, thuật lại những câu chuyện về sự hóa thân của Vishnu, cuộc phiêu lưu của Hanuman, vị vua trẻ tuổi và thiên anh hùng ca Ramayana và những truyền thuyết khác.Mặc dù không phải là ngôi đền lớn nhất ở Inđônêxia (sau ngôi đền Borobudur), Prambanan trang hoàng thêm cho nó vẻ đẹp và vẻ thanh nhã bù đắp cho sự thiếu sót về kích cỡ.
Tu viện Gregoriou (Hy Lạp)
Tu viện Gregoriou được xây dựng trên một địa điểm không thuận lợi về giao thông nhưng lại có quang cảnh đẹp hút hồn. Nằm trên mặt phía Tây Bắc của ngọn núi Mount Athos, Gregoriou được dựng lên để thờ thánh Nicholas. Được hoàn thành vào thế kỷ 14, tu viện này bao gồm 20 tu viện lớn nhỏ, và được xem là một trong những tu viện có tổ chức và nghiêm khắc nhất.
Ở đây có 70 thầy tu, mỗi người đóng một vai trò khác nhau trong tu viện. Tài sản lớn nhất của tư viện này là thư viện với nhiều đầu sách phong phú, trong đó có 297 bản sách viết tay, 4,500 quyển sách in và 804 bản kinh thánh viết tay, sách thần học, sách tôn giáo (trong đó có 1 bản kinh thánh viết tay từ thế kỷ 13).
Tu viện Metéora (Hy Lạp)
Tu viện Metéora (tiếng Hy Lạp có nghĩa là "bao quanh bởi đá" hoặc "thiên đường ở trên cao") là một trong những cụm tu viện lớn nhất và quan trọng nhất ở Hy Lạp, chỉ sau Mount Athos.
Tổ hợp tu viện này được xây dựng trên những cột đá tự nhiên, nằm ở rìa phía Tây bắc khu vực Thessaly gần sông Peneios và ngọn Pindus, ngay trung tâm Hy Lạp. Metéora gồm 6 tu viện nhỏ và được lọt vào danh sách Di sản thế giới của UNESCO.
Đền trời (Trung Quốc)Ngôi đền trời chính là một ngôi đền đạo Lão nằm ở Bắc Kinh, thủ đô Trung Quốc. Ngôi đền được xây dựng vào thế kỷ 14 dưới thời Minh, là ngôi đền dành riêng cho ông, nơi ông có thể cầu nguyện những điều tốt đẹp cho mùa màng và chuộc lỗi lầm của mình đã gây ra cho nhân dân.Kiến trúc của ngôi đền hết sức thú vị: mọi thứ trong ngôi đền đều tượng trưng cho trời, là những hình tròn trong khi những mặt thấp hơn đại diện cho Đất, đều là hình vuông.
Tu viện Gradac (Serbia)
Nhằm tưởng nhớ Hoàng hậu Helen, vợ của vua Uros đệ nhất xứ Serbia, người dân nước này đã cho xây dựng một tu viện nhỏ cách bang Raska 20 km vào thế kỷ 13. Tu viện này được thiết kế mang đậm phong cách bản địa kết hợp với trường phái nghệ thuật Gothic.
Tu viện Ngaphechaung (Mianma)
Tu viện Ngaphechaung nằm giữa hồ Inle, trên đường dẫn đến ngôi chùa Phaung Daw Oo ở Mianma. Đây là một tu viện hết sức duyên dáng, được xây dựng từ loài gỗ tếch quý hiếm vào cuối những năm 1850 và là tu viện cổ nhất thuộc khu vực này.
Chỉ cần 25 phút chèo xuồng trên hồ là du khách đã đến được tu viện với nền kiến trúc cổ đại này. Điểm đặc biệt của tu viện là các vị thầy tu nơi đây nuôi rất nhiều mèo và cho phép chúng tự do đùa giỡn với khách du lịch.
Tu viện Montserrat (Tây Ban Nha)
Tu viện Santa María de Montserrat nằm trên ngọn núi Montserrat thuộc Catalonia. Nơi đây nổi tiếng với bức tượng Montserrat (Đức mẹ đồng trinh Mary và chúa Jê su) gắn liền với nhiều câu chuyện kỳ bí.
Truyền thuyết kể lại rằng trước kia khi xây dựng tu viện, các thầy tu dòng thánh Benedict không tài nào di rời được bức tượng để lấy chỗ xây tu viện, mà thay vào đó họ buộc lòng phải xây tu viện bao quanh pho tượng. Bức tượng được đặt trang nghiêm trong sân sau của nhà nguyện chính. Người ta còn đặt một bàn thờ bằng vàng ròng bao quanh pho tượng.
Đền Borobudur (Inđônexia)Vào thế kỷ 19, những người Hà Lan xâm chiếm Inđônexia đã tìm thấy một đống đổ nát vui sâu dưới rừng nhiệt đới Java. Những gì họ phát hiện thấy là một khu tổng thể Borobudur, một kiến trúc khổng lồ được xây dựng với gần 55.000 m3 đá. Ngôi đền có gần 2700 tấm chạm khắc nổi và 504 bức tượng Phật.Cho đến tận ngày nau, không ai biết chắc chắn rằng khi nào và tại sao nó được xây dựng, hoặc nguyên nhân của việc bỏ rơi ngôi đền này hàng trăm năm trước. Một vài nhà nghiên cứu cho rằng Borobudur thực sự là một kho tàng sách phật giáo khổng lồ, những bức phù điêu kể lại những câu chuyện về cuộc đời của Phật và những nguyên tắc trong việc dạy học của ông. Để “đọc”, một người du hành cần phải đi qua 9 chiếc thềm và đi bộ một đoạn đường dài trên 2 dặm.
Đền Sri Ranganathaswamy (Ấn Độ)Ngôi đền Sri Ranganathaswamy nằm trong thành phố Tiruchirapalli của Ấn Độ, là ngôi đền Hindu quan trọng lớn nhất trên thế giới (Ankor là ngôi đền lớn thứ hai).Ngôi đền này được xây dựng cho Vishnu, một trong ba vị thần trong đạo Hindu. Truyền thuyết kể rằng, trước kia, một nhà hiền triết đã đến nơi đây và đặt một bức tượng của Vishnu dựa trên một con rắn lớn. Khi ông chuẩn bị bắt đầu chuyến đi của mình, ông đã phát hiện thấy rằng bức tượng không thể di chuyển được, và vì thế một ngôi đền nhỏ đã được xây dựng ở đó. Qua nhiều thế kỷ, ngôi đền càng ngày càng trở nên to lớn hơn rất nhiều so với kích cỡ ban đầu của nó.Tổng thể ngôi đền rất đồ sộ: Nó bao quanh một khu vực rộng khoảng 63 ha với 7 bức tường đồng tâm, bức tường phía ngoài cùng có chiểu dài khoảng 4 km.Ngôi đền Sri Ranganathaswamy rất nổi tiếng vì lối ra vào ở dưới những kim tự tháp đầy màu sắc. Ngôi đền có 21 lối đi tổng thể, lối đi lớn nhất có 15 tầng và có độ cao gần 60m.
Ăng-co Vát, Ăng-co Thom và BayonNgôi đền thường đi vào lịch sử và tín ngưỡng, tinh thần của rất nhiều tiểu thuyết cũng như những bộ phim hành động của Hollywood đó chính là ngôi đền mang tên Ăng-co Vát.Ăng-co Vát được xây dựng vào đầu thế kỷ 12 ở Campuchia. Ngôi đền nổi tiếng nhất thế giới này là ngôi đền Hinđu đầu tiên, xây dựng cho Vishnu. Vào thế kỉ 14, 15, khi đạo phật được truyền bá rộng khắp ở Châu Á, nó trở thành một ngôi đền Phật giáo.Thế giới phương Tây cũng đã biết đến ngôi đền này khi một vị hòa thượng người Bồ Đào Nha vào thế kỷ 16 đã đến thăm ngôi đền và đã hùng hồn miêu tả nó như “một công trình xây dựng phi thường mà không bút nào tả được, đặc biệt là nó không giống với bất kỳ ngôi đền nào trên thế giới. Ngôi đền này có những chiếc tháp nhọn, những hình trang trí và tất cả những chọn lọc tinh tế mà trí tuệ con người có thể tưởng tượng ra”. Những lời nói của ông vẫn còn vang vọng đến tận ngày nay.Khách du lịch khi tham quan Ăng-co Vát thường đến thăm Ăng-co thom và Bayon, hai ngôi đền rất lớn từng là thủ phủ của đế chế Khơ-me.
Theo Thụy Du tổng hợp

Lời nguyền Tippecanoe và sự ám ảnh nhiều đời tổng thống Mỹ

Cho tới nay, lời nguyền Tippecanoe ứng nghiệm trong hầu hết các trường hợp, ngoại trừ một trường hợp đặc biệt, đó là Tổng thống Ronald Reagan, đắc cử lần đầu tiên vào năm 1980, bị ám sát hụt khi mới cầm quyền 69 ngày.
Lời nguyền Tippecanoe (lấy tên từ câu khẩu hiệu “Tippecanoe và Tyler Too” - ám chỉ việc William Henry Harrison tham gia vào Trận chiến Tippecanoe năm 1811) lần đầu được đề cập tới trong cuốn sách của nhà xuất bản Ripley's Believe It or Not phát hành năm 1931. Khởi đầu cho lời nguyền này là cái chết của tổng thống William Henry Harrison (qua đời năm 1841 sau khi trúng cử năm 1840). Từ đó, cứ 20 năm lại có một tổng thống Mỹ chết khi đang tại nhiệm. Và, nó chỉ tạm dừng khi đến đời tổng thống Ronald Reagan.
Trong cuộc chạy đua vào Nhà Trắng năm 1980 (năm tận cùng bằng số 0 liền sau năm 1960), ứng cử viên và là đương kim tổng thống Jimmy Carter khi được hỏi về lời nguyền đã trả lời: "Tôi không sợ. Nếu tôi biết điều đó sẽ xảy ra, tôi sẽ vẫn cứ tiếp tục làm tổng thống và cố gắng hết sức có thể đến ngày cuối cùng". Người trúng cử năm 1980 không phải là Carter mà là Ronald Reagan. Tuy bị ám sát chỉ 69 ngày sau khi được bầu nhưng Reagan đã hoàn thành trọn vẹn 2 nhiệm kỳ tổng thống và chỉ qua đời vì tuổi già năm 2004. Vài ngày sau khi Ronald Reagan bị ám sát không thành, nhà báo Jack Anderson trong bài "Reagan and the Eerie Zero Factor" ("Reagan và nhân tố 0 kỳ quái") đã nói rằng hoặc vị tổng thống thứ 40 của Hoa Kỳ đã chứng minh lời nguyền là sai, hoặc mạng ông ta quá lớn (he had nine lives). Sau khi hoàn thành nhiệm kỳ thứ 2 năm 1988, Reagan trở thành tổng thống Mỹ đầu tiên sau 152 năm được bầu vào một năm tận cùng 0 mà không chết khi đang tại nhiệm. Hiện nay, người ta đang theo dõi nhiệm kỳ của Tổng thống George W. Bush. Ông được bầu vào năm 2000, năm có số 0 tiếp theo sau Reagan. Tổng thống Bush sẽ kết thúc nhiệm kỳ thứ hai vào giữa năm 2008.
Câu chuyện về lời nguyền Tippecanoe, được cả thế giới biết đến chính là một phần của văn hóa Mỹ. Thậm chí, nó còn được dạy như các bài học lịch sử trong trường. Làm sao có thể giải thích khác được sự tiếp nối khủng khiếp của 7 đời Tổng thống Mỹ, vốn không sống sót tới hết nhiệm kỳ trong khoảng thời gian 20 năm.
Ứng nghiệm qua các đời Tổng thống
1840: Tướng William Henry Harrison, người đánh bại Tecumseh, đã thắng trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1840 dù ông không phải người là được phần đông công chúng ưa thích. Ngày Harrison phát biểu nhậm chức, thời tiết lạnh và nhiều gió. Bài phát biểu kéo dài 1h40 phút và tân Tổng thống bị cảm lạnh. Một tháng sau, Tổng thống chết vì viêm phổi. Nhiều người bắt đầu sợ hãi.
1860: Hai mươi năm sau đó lại tới kỳ bầu cử Tổng thống. Lần này, người đắc cử là Abraham Lincoln, năm 1860. Ngay trong thời gian đầu nắm quyền, Tổng thống Lincoln bị người ủng hộ phương Nam là John Wilkes Booth giết chết.
1880: James Garfield đắc cử năm 1880 và chỉ sống được 4 tháng với nhiệm kỳ Tổng thống. Ông bị Charles J.Guiteau, một kẻ thần kinh không ổn định ám sát.
1900: William McKinley tái đắc cử nhiệm kỳ hai năm 1900. Sau đó một năm rưỡi, ông bị Leon F.Czolgosz - kẻ tự nhận là kẻ thù của Jesu giết hại. Leon đã thừa nhận là thủ phạm vì cho rằng McKinley ’’kẻ thù của nhân dân’’.
1920: Sau thế chiến II, người Mỹ tỏ ra mệt mỏi với Tổng thống Wilson và năm 1920 cử tri bỏ phiếu cho một người hoàn toàn đối lập ông. Tổng thống mới là Warren G.Harding, người bị coi là một trong những lãnh đạo tệ nhất của nước Mỹ. Trong một chuyến vi hành, Harding bị chết vì đau tim ngay trong phòng tại khách sạn Palace.
1940: Một trong những Tổng thống được lòng dân Mỹ nhất, người đắc cử Tổng thống tới 4 lần chính là Franklin Delano Roosevelt. Năm 1940, ông tái đắc cử lần thứ 3. Nhưng không lâu sau đó, khi được bầu làm Tổng thống lần thứ 4, Roosevelt đã qua đời vì chứng phình mạch. Kể từ khi tái cử Tổng thống nhiệm kỳ 4 vào năm kết thúc bằng số 0 - 1940, cái chết của nhà lãnh đạo này được coi là một phần của lời nguyền Tecumseh.
1960: Vị Tổng thống trẻ nhất của nước Mỹ John F.Kenedy đắc cử năm 1960 trong một cuộc bầu cử sít sao nhất từ trước tới nay. Ngày 22/11/1963, ông bị bắn ở Dallas. Ủy ban Warren đã buộc tội Lee Harvey Oswald là thủ phạm vụ ám sát. Tuy nhiên, nhiều người tin rằng Oswald chỉ là vật hiến tế cho một trong những âm mưu nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20.
Thụy Du tổng hợp

Bí ẩn đằng sau viên kim cương Hy Vọng


Viên kim cương xanh lớn nhất thế giới có tên Hy vọng (Hope) hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng lịch sử tự nhiên Smithsonnian, Washington D.C, Hoa Kỳ. Không chỉ nổi tiếng bởi kích cỡ, màu xanh đẹp tuyệt, viên kim cương có cái tên rất dễ thương này từ nhiều thế kỷ qua còn gây sự chú ý của cả thế giới bởi lời nguyền ma quái về tai họa dành cho những ai dám sở hữu chúng, chìa khóa giải mã điều bí ẩn đó.
Theo truyền thuyết, viên kim cương này đã có hơn 1.000 năm tuổi thọ và có sức mạnh kỳ diệu của thần Vishu - có thể ban phát tai họa cho những ai dám xúc phạm đến nó... Hy Vọng có hình trứng, nhiều mặt sáng bóng và màu xanh xẫm rực rỡ, kích cỡ 25,60 x 21,78 x 12 mm và nặng 45,52 cara. Hy Vọng được dùng làm mặt của chuỗi vòng cổ và người ta gắn thêm 16 viên kim cương trắng nhỏ khác bao quanh nó. Hy Vọng có màu xanh da trời.
Huyền thoại bắt đầu vào khoảng năm 1660-1661 khi một thương nhân người Pháp chuyên săn lùng châu báu quý hiếm tên Tavernier Blue đặt chân lên đất Ấn Độ và mua được viên kim cương xanh nặng tới 1233/16 carat (tương đương 22,14 gam) ở vùng Golconda. Tất cả các tài liệu có liên quan đều chép rằng, viên kim cương khổng lồ này bị gỡ ra từ mắt tượng nữ thần Sita, vợ của Rama - hóa thân thứ 7 của vị thần Vishnu, vị thần tối cao trong Ấn Độ giáo. Người ta cho rằng, sau khi phát hiện viên đá quý đã biến mất trên khuôn mặt của bức tượng nàng Sita, các giáo sỹ Bà La Môn đã lập tức dùng bùa chú đặt một lời nguyền cầu xin tai họa giáng xuống những ai dám sở hữu nó. Vì thế, Tavernier đã chịu cái chết thảm khốc vì bị các con chó hoang cắn xé trong chuyến đi đến Nga sau khi ăn trộm viên kim cương.
Trước khi chết, năm 1668, Tavernier bán viên kim cương này cho Louis XIV (tức Louis Mặt trời), vua nước Pháp, cùng 14 viên kim cương cỡ lớn và 1.122 viên nhỏ hơn. Vì hình thù của viên kim cương này quá góc cạnh và thô tháp, Louis XIV đã sai Sieur Pitau - thợ kim hoàn hoàng gia cắt gọt nó lại. Cuối cùng, trọng lượng viên kim cương này co lại chỉ còn 67 1/8 carat (13,4 gam) và kể từ đó có tên mới là Kim cương trên vương miện (Blue diamond of the Crown) hoặc Màu xanh nước Pháp (French Blue). Vua Louis XVI nằm trong số những người sở hữu nổi tiếng nhất của Hy Vọng - ông bị chặt đầu cùng vợ là nữ hoàng Marie Antoinette.
Năm 1911, Evalyn Walsh McLean đã mua lại viên kim cương với giá 180.000 USD. Sau đó, tai họa không ngừng đổ xuống đầu gia đình Evalyn. Năm 1916, 6 năm sau khi mua Hy vọng, nhà Evalyn bắt đầu khánh kiệt vì thói ném tiền qua cửa sổ của bà. Năm 1919, con trai của Avalyn chết trong một tai nạn xe hơi. 2 năm sau nữ tác giả May Yohe tung ra cuốn Bí ẩn viên kim cương Hy vọng (The Hope Diamond Mystery) - cuốn sách đầu tiên viết về lời nguyền ma quái. Cho tới năm 1949, nhà kim hoàn Harry Winston mua lại toàn bộ số nữ trang của Evalyn, trong đó có hai viên Ngôi sao phương Đông và Hy vọng. 9 năm sau đó ông hiến tặng Hy vọng cho tổ chức từ thiện Smithsonian và kể từ đó, nó được trưng bày trong bảo tàng đến tận ngày nay.
Theo Thụy Du tổng hợp

Phát hiện kho báu Viking ở Thụy Điển

Các nhà khảo cổ thuộc Hội đồng Di sản quốc gia Thụy Điển bất ngờ phát hiện kho báu chứa 472 đồng bạc khi đang tiến hành khai quật một ngôi mộ từ thời Đồ Đồng gần phi trường Arlanda ở Stockholm.
Đây là kho báu sơ khai lớn nhất của người Viking ở Thụy Điển được chôn cách đây khoảng 1.150 năm. Ngôi mộ có từ thời Đồ Đồng - Nơi phát hiện ra kho báu còn có một phòng chôn cất bằng đá có đường kính 16m, được cho là lâu đời hơn kho báu khoảng 1000 năm. Rất ít những kho báu Viking được phát hiện trước đó nằm trong những công trình tiền sử như thế. Kho báu mới phát hiện chỉ chứa những đồng tiền phương Đông, phần lớn được đúc ở vùng thuộc Ả Rập như Baghdad (Iraq ngày nay) hay Damascus ở Syria. Đồng tiền trẻ nhất có niên đại từ những năm 840 sau Công nguyên. Kenneth Jonsson – (Đại học Stockholm) cho biết, kho báu này có vào khoảng năm 850 sau Công nguyên. Phần lớn những đồng tiền trong kho báu mới phát hiện này đã bị cắt thành nhiều mảnh, và người Viking định giá chủ yếu dựa vào độ bạc 95% của chúng. Các nhà khảo cổ cho biết: “Họ đặt một đồng tiền lên cân đo, trọng lượng cho biết giá trị của bạc. Họ đập vỡ chúng thành từng mảnh để có được chính xác lượng bạc mà họ cần.”
Trước đó, kho báu Viking Thụy Điển thường được phát hiện trên hòn đảo Baltic Gotland, chúng ít phổ biến hơn trên đất liền. Kho báu Stockholm cũng là kho báu đầu tiên của người Viking trên lãnh thổ Thụy Điển được phát hiện ở đất liền. Các nhà khảo cổ học đang nghi những đồng tiền được chôn dấu ở đây chính là chiến lợi phẩm của một nhóm cướp biển xa xưa hoặc là tiền lãi từ các hoạt động thương mại. Thành viên nhóm khảo cổ Karin Beckman-Thoor nói, một khi được nghiên cứu kỹ lưỡng, kho báu này sẽ đem lại rất nhiều thông tin về hành trình của nó, cũng như lý do nó được chôn dấu ở đây.
Thụy Du - Theo National Geographic

Ám ảnh lời nguyền từ chiếc Porsche của James

James Dean (1931 - 1955) là ngôi sao điện ảnh huyền thoại người Mỹ. Chỉ nổi danh với ba bộ phim kinh điển và mất vì tại nạn xe hơi khi mới 24 tuổi. Ông là một trong những thần tượng lớn của giới trẻ Mỹ và thế giới.
Vào năm 1955, James Dean mua được một trong 90 chiếc Porsche 550 Spyder, và anh đặt biệt danh cho nó là "Đứa con hoang nhỏ" (Little Bastard"). Sau khi James Dean, chiếc xe trở nên nổi tiếng. Nó không chỉ giết chết James Dean mà còn một vài người nữa trong những năm sau đó.
Ngày 30/9/1955, sau 4 giờ chạy, chiếc Porsche 550 Spyder của James Dean cùng một người thợ máy, Rolf Wutherich, đi ngang qua Cholame, một thành phố nhỏ ở California. Vào thời điểm đó, một sinh viên trẻ - Donald Turnuspeed, tới đường số 41. James Dean trên đường US Highway 466. Donald Turnuspeed dành quyền ưu tiên và James có gắng quay tai lái nhưng không được. Xảy ra va chạm, hai chiếc xe đâm vào nhau. Đội cứu hộ đến ngay sau đó, hai cảnh sát đã chứng kiến cảnh đó. Rolf Wutherich bị văng ra khỏi xe ô tô nhưng chỉ bị thương nhẹ. Sinh viên Donald Turnuspeed cũng vô sự với vài vết bầm tím. Còn James Dean tử nạn. Lúc đó vào khoảng 17h59.
Trái với lời nói của mọi người, James không hề chạy xe quá nhanh, vận tốc chỉ 88 km/h, Donald Turnuspeed mới là người chạy quá tốc độ. Khi đó James Dean vừa mới quay xong bộ phim Giant, trớ trêu là trong điều khoản hợp đồng làm phim, có một điều khoản cấm anh chạy xe trong thời gian quay.
Rất nhiều người tin là chiếc xe đó bị mang một lời nguyền. Sau thảm kịch, một người chuyên mông má xe có tên George Barris mua “con xế” rúm ró về với giá 2.500 USD. Khi vừa về đến ga-ra của Barris, chiếc Porsche trượt ra và rơi xuống một thợ cơ khí khiến anh này gẫy cả 2 chân. Trong khi Barris có những linh cảm không hay về chiếc xe khi mới nhìn thấy nó lần đầu tiên, sự nghi ngờ của ông đã được khẳng định trong cuộc đua tại Hội chợ Pomona vào ngày 24/10/1956.
Tiếp đó, vị bác sĩ mê đua xe Troy McHenry mua động cơ của nó về lắp vào xe đua của mình cũng bỏ mạng không lâu sau trên đường đua do bị mất kiểm soát và đâm sầm vào một cái cây. Mua lại chiếc xe với giá rẻ như cho, tay đua William Eschrid trở thành nạn nhân tiếp theo khi chiếc xe lật úp. Eschrid sống sót dù bị thương nặng, cho biết chiếc xe bỗng nhiên hãm lại khi ông đi vào đoạn đường vòng. Khi người ta đem chiếc Porsche đi sửa chữa, nó lại làm cho ga-ra cháy rụi hoàn toàn.
Tuy vậy, “chiếc xe lời nguyền” vẫn được đem ra trưng bày ở trường trung học Sacramento. Lần này nó trượt khỏi điểm trưng bày, làm vỡ xương hông một khách tham quan. Khi xe được chuyển đến Oregon, rờ-moóc chở nó bất ngờ tách ra, đâm sầm vào một cửa hiệu làm vỡ nhiều thứ bên trong. Cuối cùng năm 1959, chiếc xe bất ngờ rã thành 11 phần khi nằm trên giá đỡ bằng thép, dù chẳng có ai đụng đến nó cho đến năm 1960 thì nó biến mất.
Thụy Du tổng hợp

Bí mật hầm mộ Paris

Hài cốt được xếp dọc các hành lang trong hầm mộ
Hầm mộ Paris– nơi ẩn náu của những linh hồn đã chết và là chốn “du ngoạn” của những linh hồn đang sống. Hầm mộ có chiều dài gần 187km, vốn là một hầm mỏ cũ bị bỏ hoang. Trong hầm mộ, dọc các hành lang, nhưng bộ xương được treo la liệt trong các lồng kính, thậm chí, chúng còn được xếp đống ở hai bên hành lang... Hầm mộ Paris – vẫn được gọi bằng cái tên thành kính: Thánh địa của Paris, vốn không dành cho những người yếu tim.
Đầu thế kỷ mười chín, hầm ngầm Paris còn là một nơi bí hiểm. Những lời đồn đại càng làm người ta sợ hãi. Paris mơ hồ biết bên dưới nó có một cái hầm khủng khiếp.
Cuối thế kỷ 18, nghĩa địa Innocents nằm ở khu phố Les Halles đã tồn tại gần 6 thế kỷ, hiện gây nên nhiều vấn đề về vệ sinh. Sau nhiều lời phàn nàn của dân chúng, ngày 9/11/1785, Hội đồng Quốc gia tuyên bố sẽ dẹp bỏ nghĩa địa này. Cùng với đó, các nghĩa địa khác của Paris cũng trở nên chật hẹp sau nhiều thế kỷ với các cuộc chiến tranh, dịch bệnh...Hầm khai thác đá cũ nằm ở ngoại ô khi đó được chọn làm nơi chôn cất các hài cốt của nghĩa địa. Sau khi được cải tạo lại, từ ngày 7/4/1786, công việc di chuyển các hài cốt về nơi mới đượcbắt đầu. Theo nghi lễ, việc chuyển dời này được thực hiện vào buổi đêm với sự tham gia của các tu sĩ cầu kinh cho những người đã khuất. Tới năm 1788, việc di chuyển được hoàn thành. Tiếp theo đó, năm 1814 nơi đây lại đón nhận các hài cốt từ những nghĩa địa khác của Paris.
Hiện nay, một phần nhỏ của nghĩa địa này được mở cửa đón tiếp công chúng vào thăm quan. Phần còn lại của hầm mộ, theo lời đồn đại, do một đội quân đặc biệt là các hồn ma và xác chết canh giữ, không cho bất kỳ ai bén mảng tới.
Lối đi vào hầm mộ tối om, xuyên qua cái cửa chỉ đủ một người chui lọt, xuống những bậc thang ẩm thấp, người ta thấy bên trong là cả một mê cung mờ ảo gồm những phòng trưng bày, những hốc tường và vô số ngóc ngách dần hiện ra. Những cái hốc ma quái ấy dường như dẫn đến tận trung tâm trái đất. Các lối đi trong hầm mộ ngậm ngụa trong bùn, hay là những đường hầm chật hẹp. Hầm mộ như ngập trong một màn đêm vĩnh cửu. Ở đây, người ta có cảm giác như phải nói thật kẽ, phải giữ điều bí mật, như một thứ linh thiêng. Điều đó tạo nên một thứ văn hóa khác hẳn với những luật lệ và tên gọi riêng. Vào khoảng hai thập niên trước đây, người ta cho rằng có 300 lối đi xuống các hầm mộ.
Rơi vào lòng đất, những giai tầng xã hội dần dần tan biến và “có cảm giác như mình đang có hai cuộc đời”, Partick Aalk - một nhà nhiếp ảnh đã có hơn hai thập niên kinh nghiệm khảo sát đô thị dưới sâu thẳm của Paris nhận xét. Giống như những gì cô bé Alice trong truyện “Alice và xứ sở kỳ diệu” của Lewis Carroll đã khám phá khi cô rơi vào một cái hang thỏ, những người đi dưới lòng đất luôn sợ hãi, cảnh giác, chờ đợi điều sắp xảy ra. Nhưng thay vì một tiệc trà với Mad Hatter như trong truyện Alice ở xứ thần tiên, nơi đây là cuộc gặp gỡ của ánh đèn flash trong những căn phòng bằng đá ẩm ướt, mốc meo với những cái tên gọi cũng đầy bí hiểm như “Hầm chứa” hay “Phòng Z”.
Địa điểm đó được phát hiện dọc theo những con phố, bên dưới nhà ngục Sante được canh giữ nghiêm ngặt. Nhiều đường hầm có thời bị đóng kín nay đã được mở lại một phần. Người dân Paris lo sợ rằng tù nhân nhà tù Sante có thể âm mưu vượt ngục hoặc tệ hơn, bọn khủng bố có thể lọt vào khu vực ngầm này để đặt bom.
Hương Hồ tổng hợp

Bóng ma nữ hoàng Anne Boleyn

Đám cưới của Anne Boleyn và Vua Henry VIII
Trước khi đưa đầu vào máy chém, Anne đã nói đi nói lại một câu rằng: “Rồi ta sẽ trở thành một La Reine sans tête (Nữ hoàng không đầu)”.
Nhiều nhân chứng cho biết họ đã nhìn thấy hồn ma của Nữ hoàng Anne Boleyn xung quanh khu vực lâu đài Blicking Hall. Những người canh gác ở lâu đài nói rằng họ thường bắt gặp nữ hoàng cùng đi với một đoàn tuỳ tùng rất trang nghiêm. Nhưng, điểm đặc biệt là cả đoàn từ nữ hoàng, người tuy tùng, người đánh xe cho đến những con ngựa đều không đầu. Một số người khác nói, có lúc họ nhìn thấy bà đi thơ thẩn trong lâu đài, với chiếc đầu nhỏ máu gói cẩu thả trong vạt váy, đi xuyên qua tường ngay trước mũi người trần mắt thịt sau đó lại biến mất ngay tắp lự như thể bốc hơi. Bà có thể xuyên qua những bức tường, ngay trước mặt những người đang sống. Vào 1864, toà án quân sự ở đây cũng đã từng xử trắng án vụ một thiếu uý ngủ quên trong lúc đang làm nhiệm vụ. Người ta cho rằng, anh lính này đã ngất xỉu khi tình cờ nhìn thấy một hồn ma trong lúc đang làm nhiệm vụ. Đó là một bóng sáng mờ ảo của một người phụ nữ không đầu, được cho là nữ hoàng Anne. Nhiều nhân chứng ở gần địa điểm người lính đang canh gác cũng cho biết họ có nhìn thấy bóng người phụ nữ đó, cùng với thời điểm đó. Người ta thường nhìn thấy bóng ma của Anne quanh quẩn trong khu vực lâu đài gần ngày bà bị xử tử oan vào ngày 19/5/1536 vì tội phản quốc và ngoại tình.
Nữ hoàng không đầu thường đi dạo cùng 2 linh hồn hoàng tộc khác, là là hầu tước Sir John Fastolfe - hình mẫu của nhân vật Falstaff trong vở nhạc kịch nổi tiếng cùng tên của Shakespeare và Sir Henry Hobart - chính trị gia, bỏ mạng năm 1698 trong một cuộc đấu súng.
Anne Boleyn được sinh ra vào 1504, con gái của Boleyn Thomas - Bá tước đầu tiên Wiltshire. Bà lấy vua Henry VIII và trở thành nữ hoàng sau khi Henry VIII ly dị người vợ thứ nhất là Catherine Aragon. Blickling Hall được xem là toà lâu đài đứng đầu trong danh sách top 10 căn nhà bị ma ám nhiều nhất của nước Anh. Nhiều người cho rằng lâu đài này là nơi nữ hoàng Anne Boleyn được sinh ra. Tuy nhiên, các nhà bảo tồn lịch sử không tìm ra những bằng chứng để khẳng định điều đó.
Hương Hồ

Chuyện về Huyết nhân ngải

Cũng là có một loại ngải có nguồn gốc từ thực vật, nhưng khác với Bạch đại ngải, Huyết nhân ngải chỉ mọc trong những khu rừng có nhiều thú dữ sinh sống.
Để nhận biết cây Huyết nhân ngải người tìm ngải phải chờ khi đêm xuống. Lúc đó, ngải sẽ ửng lên màu đỏ như máu. Còn ban ngày lá cây màu xanh như bình thường. Hoa của loài ngải này nhỏ ly ti và có màu đỏ như những giọt máu. Vì những đặc tính đó nên loại ngải này mới có tên là Huyết nhân ngải.
Về sự xuất xứ của loại cây này cũng không ít ly lỳ. Tương truyền rằng loài hổ báo sau khi ăn thịt những người tuổi Dần sẽ bỏ lại quả tim của nạn nhân, từ quả tim bỏ lại đó sẽ mọc lên loài Huyết nhân ngải. Khi nhổ loài ngải này cũng phải đọc thần chú. Để luyện được Huyết nhân ngải hội đủ khí âm dương phải mất hàng năm trời. Củ của Huyết nhân ngải nếu đem ngậm một lát nhỏ sẽ có đủ sức lực để nhịn đói 1 tuần mà sức lực không suy giảm. Ngải này giúp người dùng có thần giao cách cảm, đoán biết được những sự kiện nghìn trùng xa cách.
Thụy Du tổng hợp

Chứng đa nhân cách và những con người bị "quỷ ám"

Họ là những người không có được thể chất và tinh thần bình thường bởi luôn bị ám ảnh bởi ý nghĩ: bị quỷ ám! Khoa học cho rằng, đó là biểu hiện của những căn bệnh tự kỷ ám thị, hay đa nhân cách.
Bầy quỷ của Anneliese Michel
Anneliese Michel là một con chiên mộ đạo người Đức luôn bị ám ảnh với ý nghĩ mình bị tới 6 con quỷ ám! Đặc biệt, theo lời kể của Michel, ba trong số 6 “con quỷ” này là Hitler, Nero và Cain! Khi biết tới câu chuyện về người phụ nữ này, cha xứ Ernst Alt – một linh mục trong xứ đạo của Michel và là một chuyên gia về thần chú, cho rằng cô cần được phù phép để trừ tà!
Trước đó, y học đã hoàn toàn bó tay trước những triệu chứng “điên loạn” của Anneliese Michel, chẳng hạn như méo mó, uốn éo cơ thể một cách khó hiểu, chứng đa nhân cách và sử dụng nhiều tiếng nói khác nhau…
Anneliese Michel ra đi vào ngày 1/7/1976 – thời điểm mà cô cho là sự giải thoát khỏi những con quỷ! Tuy nhiên, nguyên nhân của cái chết theo công bố của chính quyền địa phương là do chứng suy dinh dưỡng cấp và mất nước - gây ra bởi 11 tháng tiến hành các nghi lễ niệm chú!
Căn bệnh của John Bare
John Bare là một chàng trai trẻ. Anh ta sống cùng gia đình tại New York, và làm việc trong một tập đoàn kinh tế lớn. Bare làm phân tích tài chính cho nên công việc rất bận rộn, ít có thời gian để thư giãn và vui chơi với bạn bè. Thời còn học đại học, Bare là người rất sôi nổi, vui vẻ. Nhưng dần dần dưới áp lực công việc hay một biến cố tâm lý nào đó, anh trở nên cáu kỉnh và khó tính. Một buổi đến công sở, trái với thường lệ là đi thẳng đến bàn làm việc của mình ở góc phòng bên phải, Bare lại ngồi xuống bàn làm việc của một đồng nghiệp khác. Anh giở hồ sơ trên bàn ra và cắm cúi làm chính những công việc của người đó. Việc đó đã khiến cả công ty xôn xao vì Bare đã phạm vào nguyên tắc tối thiểu nhất trong công việc. Đó là đụng đến hồ sơ công việc của người khác. Nhưng điều lạ lùng hơn nữa là Bare không chịu nhận cái lỗi lớn ấy mà còn bất ngờ nhận chính mình là đồng nghiệp đó. Người ta mang Bare đi khám bác sĩ thần kinh. Nhưng bác sĩ cũng chịu bó tay mà không đoán được điều gì đang xảy ra. Sau vài tuần "làm một người khác" như vậy, Bare trở lại bình thường và lại tiếp tục công việc của mình rất nghiêm túc. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau, dường như tâm lý của Bare có gì không ổn. Đang là một chàng trai chưa có gia đình nhưng Bare lại "tin chắc" rằng anh ta có vợ và hai con. Gia đình anh ta sống ở đâu đó trong thành phố mà anh ta quên mất đường về nhà. Cuối cùng, Bare cũng tìm thấy gia đình một đôi vợ chồng có hai con sống ở ngoại ô. Bare vào nhà và anh ta vô cùng ngạc nhiên vì có một người đàn ông khác nhận là chồng "vợ mình" và là chủ ngôi nhà đó. Bare nổi cơn ghen và nếu những người thân của Bare không đến kịp nói cho chủ nhà biết triệu chứng của Bare thì hẳn đã xảy ra một vụ loạn đả. Khi bị mọi người đưa về, Bare còn nhắn nhủ rất tình cảm với "người vợ" của mình. Người đàn bà ngơ ngác và sợ hãi nhìn chồng như thanh minh. Trong thời gian khoảng một tháng, Bare luôn bồn chồn lo lắng về vợ con mình, về người đàn ông đang sống cùng vợ mình. Sự lo lắng của anh ta tỏ ra rất tự nhiên. Sau thời gian đó, Bare trở lại sống cuộc sống bình thường của nhân viên phân tích tài chính John Bare.
Điều kỳ lạ là trong khoảng thời gian đó, Bare không nhớ bất kỳ một chi tiết nào trong thời gian anh ta "hóa thân" vào cuộc sống của người khác. Không phải John Bare mất trí nhớ. Anh nhớ rất rõ những gì xảy ra trong những thời gian anh là "Bare". Tính tình Bare mỗi ngày một cau có hơn. Người ta lo sợ anh sẽ tiếp tục "sống" bằng một "nhân cách" khác. Nhưng thình lình, Bare bị ốm rất nặng. Anh rất khó thở. Sau thời gian khỏi bệnh khá lâu, vẫn không thấy anh có biểu hiện gì khác.
Cô gái ở Tòa thánh Vatican
Năm 2000, đích thân Giáo hoàng John Paul II đã tiến hành niệm chú cho một cô gái ở Tòa thánh Vatican. Trước đó, cha xứ Gabriele Amorth - thầy phù thủy chuyên nghiệp của giáo khu Diocese of Rome - đã thử tiến hành phù phép cho cô gái nhưng thất bại.
Buổi niệm chú của Giáo hoàng John Paul II diễn ra tại Quảng trường St. Peter với hi vọng sẽ giải thoát cô gái khỏi những điên khùng kì lạ. Tuy nhiên, kể cả ở lần “ra tay” của Giáo hoàng, kết quả cũng không được như mong đợi!
Báo chí Italia kể lại rằng cô gái trẻ bị “quỷ ám” này đã bắt đầu la hét những lời lăng mạ vị Giáo hoàng và “chiến đấu” với cánh vệ sĩ của ông bằng sức mạnh của một “siêu nhân”!
Laura và chứng tự kỷ ám thị
Laura là một cô gái trẻ trung xinh đẹp. Tốt nghiệp đại học, vào làm cho một tổ chức phi chính phủ nghiên cứu sự hình thành các sắc tộc. Cô là một người da trắng. Nhưng đột nhiên, Laura lại nghĩ mình là một người da đen và cô cư xử y hệt một người da đen. Ban đầu người ta nghĩ rằng do ảnh hưởng của công việc nên tâm lý của cô biến đổi như vậy. Nhưng mọi việc lại diễn ra theo chiều hướng khác, Laura lại thấy mình là một người đàn ông, mang tên là Guwer. Cô bắt đầu ăn mặc và sống như một người đàn ông.
Người thân của cô cho rằng đó chẳng qua cũng chỉ là trào lưu của các cô gái trẻ hiện đại muốn tỏ ra mạnh mẽ. Nhưng họ phát hoảng khi "anh" Guwer quyết định đi tìm cha mẹ đã sinh ra mình. Bấy giờ cha mẹ Laura mới đưa cô đến bác sĩ. Các bác sĩ tâm lý cũng không làm được gì hơn. Người ta nhận thấy rằng các triệu chứng của Laura cũng tương tự như của John Bare và của một số bệnh nhân khác. Họ không hề bị chấn thương về tâm lý, không có tiền sử về các bệnh tâm thần, cha mẹ đều khỏe mạnh, môi trường làm việc tốt...
Thụy Du tổng hợp